Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ỨNG DỤNG E-LOGISTICS VÀO HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Hoạt động Logistics và quản lý chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng Một điều rất thú vị là thuật ngữ “Logistics" chẳng có liên quan gì với từ “Logic” hay “Logistic" trong toán học. Trong các từ điển, từ "Logistics" có nghĩa là: tổ chức lo việc cung ứng dịch vụ cho mọi cuộc hành quân hỗn hợp, ngành hậu cần (trong quân sự).
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm Logistics chúng ta có thể tiếp cận dưới những góc độ khác nhau nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất phù hợp để dịch thuật ngữ Logistics sang tiếng việt. Theo tạp chí Logisticworld, 1997 thì: Logistics là một môn khoa học của việc hoạch định, tổ chức, quản lí và thực hiện các hoạt động cung ứng hàng hoá và dịch vụ. Theo Council of Logistics Managerment (Council of Supply Chain Management Professionals-CSCMP) thì: Logistics là sự quản lý, kiểm soát các nguồn lực ở trạng thái động và tĩnh, là một bộ phận của chuỗi cung ứng, bao gồm quá trình hoạch định, quản lý, thực hiện và kiểm soát hiệu quả và tiết kiệm nhất về chỉ phí và thời gian các dòng chảy xuôi chiều cũng như ngược chiều, từ điểm tiền sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng với mục tiêu đáp ứng nhu cầu khách hàng, quy trình này bao hàm cả các hoạt động đầu vào, đầu ra, bên trong cũng như bên ngoài của tổ chức. Theo giáo sư David Simchi-Levi (MIT-USA): Hệ thống Logistics (Logistics network) là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất kho, cửa hàng, một cách hiệu quả để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểmnhằm mục đích giảm chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được yêu cầu ở mức độ phục vụ.
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,. các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì: Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên / yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng Thư viện ĐH Thăng Long 5 thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Logistics and Supply Chain Managerment - 1999 - Ma Shuo). Theo khái niệm này, Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức: − Cấp độ thứ 1: tối ưu hoá vị trí: là lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ,.
Ở đâu? Khi nào? Và vận chuyển đi đâu? − Cấp độ thứ 2: tối ưu hoá vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên / các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng Chuỗi cung ứng là một hệ thống tổ chức, con người, các nguồn lực, thông tin, các hoạt động,…liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Các yếu tố trong chuỗi: nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà vận chuyển, kho vận, nhà phân phối, khách hàng…là một hệ thống liên quan, kết nối và có liên hệ chặt chẽ với nhau.2: Sơ đồ quản lý các hoạt động trong chuỗi cung ứng Quản lý chuỗi cung ứng là tập hợp tất cả các phương thức sử dụng một cách tích hợp và hiệu quả các nhà cung cấp, nhà sản xuất, hệ thống kho bãi, trung tâm phân phối để sản phẩm được sản xuất và phân phối đúng số lượng, chất lượng, đúng nơi, đúng lúc. Theo Hội đồng các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals) quản lý chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động quản lý hậu cần gồm lập kế hoạch và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến việc tìm nguồn cung ứng và thu mua, bao gồm tất cả hoạt động Logistics. Quan trọng hơn, nó cũng bao gồm sự phối hợp và hợp tác với các đối tác trong một chuỗi cung ứng toàn diện, trong đó 6 có thể là nhà cung cấp, các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba, và khách hàng.
Về bản chất, quản lý chuỗi cung ứng tích hợp quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty khác nhau”. Các hoạt động Logistics và quản lý chuỗi cung ứng Logistics là khâu trung gian để đưa hàng hoá (sản phẩm hoặc dịch vụ) đến tay người tiêu dùng nhanh nhất. Nó sẽ bao gồm các hoạt động vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, quản trị tồn kho, hoạch định cung cầu. Ngoài ra Logistics cũng sẽ kiêm luôn việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào, lập kế hoạch sản xuất, đóng gói sản phẩm, dịch vụ khách hàng.
Quản lý Chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất – tồn kho – địa điểm và vận chuyển nhằm đáp ứng nhanh chóng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường. Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động quản lý hậu cần gồm lập kế hoạch và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến việc tìm nguồn cung ứng và thu mua, bao gồm tất cả hoạt động Logistics. Các hoạt động quản lý chuỗi cung ứng tiêu biểu có thể kể đến như: • Quản lý vận tải: quản lý việc di chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, từ việc lựa chọn phương thức vận chuyển tốt nhất, sắp xếp các chuyến hàng đến việc theo dõi tình trạng giao hàng. • Quản lý hàng tồn kho: là hoạt động quản lý việc lưu trữ và di chuyển hàng tồn kho, như theo dõi mức tồn kho, dự báo nhu cầu và tối ưu hóa vị trí hàng tồn kho.
• Tối ưu hóa chuỗi cung ứng: hoạt động này liên quan đến việc phân tích và nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng, bao gồm xác định các điểm nghẽn, giảm thời gian thực hiện và cải thiện giao tiếp giữa các đối tác. • Phần mềm logistics: Bao gồm việc sử dụng phần mềm để quản lý hoạt động logistics như hệ thống quản lý vận tải, quản lý kho bãi 1. Vai trò của hoạt động Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp Logistics giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ.
logistics giúp giảm chi phi, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics, ví dụ: chọn sai vị trí, chọn nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả. Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa Thư viện ĐH Thăng Long 7 quốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bi quyết công nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh. tốt nhất và thể là logistics toàn cầu hình thành và phát triển.
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau.; Chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho và giao hàng theo đúng thời gian với tổng chi phi thấp nhất. Theo các chuyên gia ngoại thương, giấy tờ rườm rà chiếm một khoản chi phí không nhỏ trong mậu dịch quốc tế và vận chuyển. Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra đảm nhiệm việc ký một hợp đồng duy nhất sử dụng chung cho mọi loại hình vận tải để đưa hàng từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng cuối cùng. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hải lỏng và giá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics.
Đứng ở góc độ này, logistics được xem là công cụ hiệu qua để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự khác biệt hóa và tập trung. Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗn hợp (4P - Right Product, Right Price, Proper Promotion, and Right Place). Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp. Sản phẩm dịch vụ chỉ có thể làm thoả mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn và địa điểm quy định.
Ứng dụng E-Logistics trong doanh nghiệp 1. Giới thiệu về E-Logistics 1. Khái niệm Khái niệm E-Logistics ra đời với những cách tiếp cận khác nhau. Một số người cho rằng E-Logistics là quá trình phân phối hỗ trợ thực hiện các đơn đặt hàng thương mại điện tử trực tuyến (Joseph, Laura và Srinivas2004).
Một vài người khác lại cho rằng E-Logistics là thuật ngữ để chỉ việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ hoạt động logistics và quản lý chuỗi cung ứng (Daly và Cui, 2003; Gunasekaran, Ngai, và Cheng, 2887). Những quan điểm trước là định nghĩa hẹp về tiện ích của hậu cần điện tử trong hoạt động kinh doanh trực tuyến giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) hoặc doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) thì phần sau lại giới thiệu một khái niệm rộng hơn tập trung vào việc sử dụng CNTT-TT để quản lý thông tin và các luồng thông tin trong chuỗi cung ứng được nối mạng – đây cũng là cách tiếp cận được áp dụng trong trong bài khóa luận này.