CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ XNK 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 1. Khái niệm Logistics là một thuật ngữ khó chuyển nghĩa từ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, bởi hàm nghĩa của từ này quá rộng nền không thể dùng một từ ngữ tiếng Việt để truyền tải được hết nghĩa của nó. Bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã, các chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sĩ hành quân an toàn từ bản doanh tới một địa điểm khác.
Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của một cuộc chiến, khi mà các bên tìm mọi cách để bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương. Quá trình tác chiến, tác nghiệp đó dần hình thành nên một hệ thống mà sau này gọi là quản lý logistics. Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council Supply Chain Management Professionals - CSCMP) Hoa Kỳ có đưa ra khái niệm vào năm 2001: “Logistics là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.” Khái niệm được đưa ra bởi Hội đồng Logistics Hoa Kỳ (LAC - The US. Logistics Administration Council) vào năm 1988 như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan, từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”.
Tại kỳ họp thứ 7, khoá XI, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Thương mại 2005 vào ngày 14/06/2005, trong đó có quy định cụ thể khái niệm “dịch vụ logistics”. Tại điều 233 - Mục 4 - chương VI của Luật Thương mại quy định: “ Định vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, 8 lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” Vào năm 2015, tác giả Nguyễn Quốc Tuấn trong Luận án Tiến sĩ quản lý nhà nước đối với dịch vụ Logistics ở Cảng Hải Phòng cho rằng: “Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện các hoạt động, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan,. Do đó, logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược”. Trong bài nghiên cứu “Phát triển đô thị cảng Đà Nẵng với dịch vụ logistics trong thập niên 2020-2030” , tác giả Tào Thị Hải cho thầy: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn, bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (2020).
Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau thì sẽ đưa ra các khái niệm khác nhau về logistics bởi logistics không chỉ là một hoạt động đơn lẻ mà gồm một chuỗi nhiều hoạt động khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất, phân phối. lưu thông hàng hoá. Logistics là một quá trình bao trùm tất cả các yếu tố tạo ra sản phẩm, từ các yếu tố đầu vào cho tới giai đoạn phân phối sản phẩm cuối cùng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng cùng với sự phát triển của sản xuất, phân công lao động xã hội, hoạt động trong chuỗi các hoạt động Logistics ngày càng mở rộng và phát triển.
Vì vậy, khái niệm về logistics luôn thay đổi không ngừng theo thời gian và không gian, phát triển theo hướng mở rộng cả về mức độ và phạm vi hoạt động trên tinh thần kế thừa, phát huy và kiện toàn những khái niệm đã được giới thiệu trước đó. 9 Tuy có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng các khái niệm này có thể chia làm hai nhóm: nhóm thứ nhất là định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là Luật Thương Mại Việt Nam 2005. Theo nhóm quan điểm này thì dịch vụ Logistics là việc tập hợp các yếu tố liên quan và hỗ trợ cho quá trình trung chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng cuối cùng. Đối với nhóm quan điểm rộng hơn, Logistics được gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng(Supply Chain), liên quan đến các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hoá và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến người tiêu dùng.
Hoạt động Logistics có sự tác động của nhiều yếu tố vật chất và yếu tố vô hình (thông tin) từ khâu tiền sản xuất cho tới khi hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Bởi vậy, em tiếp cận Logistics dưới góc độ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển, lưu trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xử tới nơi tiêu thụ cuối cùng. Mục tiêu của hoạt động Logistics là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, kịp thời và tối ưu về mặt chi phí. Đặc điểm Dựa theo hoạt động kinh tế, dịch vụ Logistics có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, Logistics sinh tồn.
Hoạt động Logistics có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người, hoạt động Logistics giúp đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu. Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nói chung. Thứ hai, Logistics hoạt động.
Hoạt động Logistics là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics hoạt động liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào qua các giai đoạn vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến được tay người tiêu dùng cuối cùng. Thứ ba, Logistics hệ thống. Hoạt động Logistics giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động.
Những yếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, 10 công nghệ, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, … Dựa theo khái niệm được phân tích tại Luật Thương Mại 2005, dịch vụ Logistics có đặc điểm: Thứ nhất, Logistics do thương nhân thực hiện. Đối tượng chủ thể của quan hệ dịch vụ logistics gồm hai bên: khách hàng và người làm dịch vụ logistics. Đối với người làm dịch vụ, họ cần phải là thương nhân và có đăng ký kinh doanh để cung cấp dịch vụ Logistics. Đối với khách hàng, họ là những người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận.
Khách hàng có thể là người vận chuyển hay thậm chí là người làm dịch vụ Logistics khác. Như vậy, khách hàng có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân; có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa. Thứ hai, Logistics được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa các bên. Hợp đồng dịch vụ Logistics là sự thỏa thuận mà một bên (bên làm dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc một số dịch vụ liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán thù lao của dịch vụ.
Hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận, mang tính chất đền bù. Thứ ba, Logistics là dịch vụ có tính hoàn thiện cao nhất. Dịch vụ Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết, từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng. Thứ tư, Logistics là một hoạt động dịch vụ.
Khách hàng khi sử dụng dịch vụ Logistics cần trả tiền công và các khoản phí khác từ việc cung ứng dịch vụ. Phân loại hoạt động Logistics Căn cứ vào hình thức Logistics: - Logistics bên thứ nhất - First Party Logistics (1PL): Logistics bên thứ nhất hay còn được hiểu là Logistics tự cấp. Với hình thức Logistics này, tất cả hoạt động logistics đều do chính doanh nghiệp tự tổ chức và thực hiện từ việc sở hữu hàng hoá, lưu trữ và quản lý kho hàng, xử lý đơn hàng, đóng gói đến việc vận chuyển, giao hàng. Trong mô hình 1PL, chủ doanh nghiệp phải tự đầu tư các trang thiết bị, công cụ như phương tiện vận tải phục vụ việc chuyên chở, kho 11 chứa hàng, thiết bị bốc dỡ, sắp xếp,.
cũng như đào tạo kỹ năng, chuyên môn cho nhân sự vận hành, xây dựng hệ thống thông tin. Một ví dụ đơn giản về 1PL: Một nông trại tại Mộc Châu tự mình trồng rau củ qua, sơ chế, đóng gói, xử lý đơn hàng và trực tiếp vận chuyển đến các chợ nông sản hay cửa tiệm tạp hoá. Logistics bên thứ nhất thông thường được sử dụng bởi các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hàng hoá dễ vận chuyển, thường chỉ hoạt động nội địa. Đồng thời, các doanh nghiệp rất lớn, có khả năng tự điều phối các hoạt động Logistics của mình thì việc sử dụng thuê ngoài dịch vụ 1PL có thể là một lựa chọn giúp họ tối ưu chi phí.
Logistics 1PL có thể hiểu là bất cứ doanh nghiệp hoặc cá nhân nào thực hiện từ việc nhập nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng.