Chương 1 đưa ra cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu cà phê. Qua đó, người đọc có thể nắm được khái niệm, đặc điểm, vai trò, các hình thức xuất khẩu và quy trình xuất khẩu nói chung. Sự đa dạng của cây cà phê được đề cập thông qua một số thông tin như lịch sử 10 Thư viện ĐH Thăng Long ra đời, các loại hàng tiêu biểu trong nhóm ngành cà phê. Tiếp đến là về hoạt động sản xuất cà phê.
Ở phần này, tác giả đã đưa ra thông tin về các khu vực trồng cà phê đạt năng suất lớn trên thế giới. Sản lượng cà phê trong những năm gần đây cũng là một minh chứng cho sự phát triển không ngừng của hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này. Tiếp theo là một số số liệu về các nước xuất - nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới cùng với sự biến động về giá trị xuất - nhập khẩu cà phê. Từ đó đưa ra cái nhìn tổng quát về tình hình cung – cầu cà phê toàn cầu.
Từ các thông tin đưa ra, ta có thể thấy được hoạt động xuất khẩu cà phê bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố nội tại (cơ cấu, quy trình, quản lý, tài chính, nhân lực) và ngoại tại (chính trị, kinh tế, xã hội). THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU 2. Tổng quan về nhóm hàng cà phê Việt Nam Sự hình thành và phát triển của nhóm hàng cà phê Việt Nam Cà phê Arabica là giống cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX bởi linh mục người Pháp, trồng tại một số nhà thờ tại Hà Nam sau đó lan ra các tỉnh Tuyên Quang, Lạng Sơn, Ninh Bình,. Đồn điền cà phê đầu tiên ở Việt Nam được thành lập tại Kẻ Sở (Hà Nam) rồi dần dần được thành lập nhiều hơn tại các tỉnh phía Bắc.
Đầu những năm 1900, người Pháp mang hai loại cà phê Robusta và Liberica (cà phê Mít) đến vì họ nhận thấy cà phê Arabica không phù hợp với thổ nhưỡng nước ta. Sau đó, người Pháp đã liên tục thử nghiệm nhiều giống khác nhau tới từ Congo tại Tây Nguyên nhận thấy sự phát triển rất tốt của cà phê ở đây. Từ đó, người Pháp mới bắt đầu canh tác cà phê trên vùng đất thuộc Tây Nguyên ngày nay. Cuối cùng vùng đất Tây Nguyên chính là nơi hội tụ được tất cả những thuận lợi cả về sinh thái và đất đai thích hợp để cây cà phê sinh trưởng và phát triển.
Ngày nay, cà phê Việt Nam đã và đang tiếp tục trên đà phát triển rất mạnh mẽ. Nước ta cũng là quốc gia xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới. Đặc biệt, xuất khẩu cà phê Robusta của Việt Nam đứng đầu thế giới và chiếm thị phần không nhỏ trong tổng thị phần toàn cầu. Hiện nay, cà phê được phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên với giống cà phê Robusta và lan ra các tỉnh phía Bắc (Điện Biên, Sơn La, .) và cà phê Arabica ở miền Trung (Quảng Bình, Nghệ An,.
Đặc điểm nhóm hàng cà phê Việt Nam − Đặc điểm chung của cà phê Việt Nam Ở Việt Nam có 2 loại cây giống cà phê chính là cây cà phê Arabica, cà phê Robusta. Trong đó diện tích cây cà phê Robusta chiếm khoảng 90%; cà phê Arabica chỉ chiếm khoảng 10%. Chất lượng cà phê Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt giữa hai loại. Cà phê Robusta có chất lượng cao hơn so với cà phê Arabica.
Tuy nhiên, chất lượng cà phê nước ta chưa tốt và không đồng bộ giữa các khu vực, vẫn còn nhiều dư lượng thuốc trừ sâu. Giá cà phê nước ta được hình thành dựa trên giá được niêm yết tại sở giao dịch hàng hóa lớn như London, New York. Do sự biến động của giá trên thị trường toàn cầu nên giá cà phê nước ta cũng không ổn định. Theo các chuyên gia đánh giá, giá cà phê Việt Nam đang rất rẻ, có những thời điểm thấp gần nhất trên thị trường quốc tế.
− Quy mô sản xuất Quy mô sản xuất cà phê ở nước ta vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán. Có tới trên 80% diện tích là nông hộ, trong đó khoảng trên 60% diện tích có quy mô dưới 1 ha/hộ. − Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động cung ứng cà phê Việt Nam còn nhiều thiếu sót và đang dần được nâng cấp, khắc phục. 12 Thư viện ĐH Thăng Long Hệ thống sân phơi: diện tích sân phơi cà phê còn eo hẹp, nhiều khu vực chưa đạt chuẩn do quy mô trồng và sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa có sự đồng nhất và hợp tác giữa các hộ nên không được chú trọng đầu tư.
Cà phê thường được phơi trực tiếp trên nền đất, nền bê tông. Nếu sàn không sạch sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cà phê. Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất: nhiều hộ dân sơ chế theo phương pháp thủ công, truyền thống, sử dụng máy móc từ lâu đời. Các doanh nghiệp áp dụng chủ yếu là công nghệ thấp, dây chuyền sản xuất chỉ đủ đáp ứng sơ chế cà phê thô, không thể sản xuất cà phê chế biến sâu.
Ít doanh nghiệp trang bị hệ thống dây chuyền hiện đại. Các cơ sở hạ tầng như nhà kho, hệ thống đường giao thông còn sơ sài. Chưa thật sự hiện đại, còn tồn tại nhiều tuyến chưa được bê tông hoá; nhiều quốc lộ xuống cấp; ít tuyến cao tốc kết nối với cảng biển và các trung tâm lớn làm tăng chi phí vận chuyển. Hệ thống nhà kho của các hộ cũng chưa đảm bảo các tiêu chí bảo quản cà phê tốt nhất.
Cơ sở hạ tầng thuỷ lợi: khu vực trọng điểm trồng cà phê cả nước đã đầu tư xây dựng được 2360 công trình thủy lợi (1190 hồ chứa, 970 đập dâng, 130 trạm bơm và 70 công trình khác). Các vấn đề liên quan tới hệ thống tưới tiêu đang được phát triển. Hiện nay, áp dụng công nghệ tưới tiêu mới giúp tiết kiệm nguồn nước, khai thác hiệu quả các công trình thủy lợi và đem lại những thành công nhất định trong việc trồng cà phê. − Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật áp dụng Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến cà phê còn hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến cà phê.
Bằng chứng rõ nhất cho việc này đó là nước ta chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài cà phê thô, sản lượng cà phê qua chế biến nhỏ. Kỹ thuật canh tác của người dân chưa hợp lý, còn vướng mắc nhiều vấn đề. Họ quen với lối canh tác truyền thống, phương thức canh tác mới tốn kém nhiều chi phí nên họ còn nhiều bỡ ngỡ, không muốn đổi mới canh tác. Bằng việc áp dụng các phương thức canh tác mới, chất lượng cà phê Việt Nam được nâng cao hơn; lợi nhuận thu lại tốt; giúp ngành cà phê phát triển bền vững hơn.
Một số phương thức hiện đại đã và đang được áp dụng như Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VnSAT), tiêu chuẩn VietGap, Global GAP,. Phát triển cà phê theo hướng nông nghiệp xanh nên các chất bón cho cây cà phê đang được chuyển dần sang phân bón hữu cơ, phân sinh học. Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới Năng lực cung ứng của nhóm hàng cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới: − Diện tích và sản lượng: Bảng 2. Diện tích trồng và sản lượng cà phê Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022 Diện tích trồng Sản lượng cà phê Nghìn ha Tỷ lệ tăng Triệu tấn Tỷ lệ tăng trưởng (%) trưởng (%) 2018 688,4 1,63 2019 688,3 -0,01 1,66 1,91 13 2020 680,0 -1,0 1,80 9,09 2021 710,59 4,5 1,81 0,01 2022 710,66 0,01 1,84 1,66 Nguồn: Niên giám thống kê các năm 2018 – 2022, Tổng cục Thống kê Qua bảng 2.1, ta thấy giai đoạn 2018 - 2022, diện tích trồng cà phê ở Việt Nam có sự tăng nhẹ (khoảng 22.260ha) từ 688,4 nghìn ha lên tới 710,66 nghìn ha, bình quân tăng khoảng 4.
Trong khoảng 2018 - 2020, giá cà phê thấp nên người dân không mở rộng diện tích trồng cà phê mà thay vào đó là trồng xen canh, tái canh, ghép cải tạo trên những diện tích cà phê cho năng suất thấp, bị sâu bệnh. dẫn tới diện tích cà phê giảm. Năm 2020, giá cà phê trong nước có xu hướng tăng nhẹ trong 6 tháng cuối năm và tiếp tục tăng trong năm 2021. Điều này đã thúc đẩy người dân tăng diện tích trồng cà phê trong hai năm 2020, 2021 với kỳ vọng sẽ sản xuất và bán được nhiều cà phê với giá cao hơn.
Diện tích cà phê già cỗi chiếm tỷ lệ cao, không đem lại nguồn thu ổn định, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nên các đề án tái canh được đưa ra và thực hiện rộng rãi. Theo đó, những diện tích không đảm bảo được thay thế bằng cây trồng mới hoặc ghép cải tạo nhằm mục đích trẻ hóa vườn cây già cỗi, giảm số lượng sâu bệnh, các cây trồng cho năng suất thấp không còn khả năng phục hồi được thay thế bằng giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và mang lại hiệu quả kinh tế hơn. Diện tích canh tác cà phê có xu hướng tăng cùng với đó sản lượng cà phê nước ta giai đoạn 2018 – 2022 cũng phát triển theo hướng tích cực. Sản lượng từ năm 2018 đến năm 2020 tăng lên đến 1,8 triệu tấn sau đó chững lại năm 2021 và tăng nhẹ vào năm 2022.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, sản lượng cà phê niên vụ 2019 đạt 1,65 triệu tấn, tăng 1,91% so với niên vụ trước; sản lượng cà phê mùa vụ 2020 - 2021 không có thay đổi nhiều mặc dù diện tích tăng. Nguyên nhân dẫn tới điều này là do yếu tố thời tiết không thuận lợi. Tại Tây Nguyên, năm 2020 toàn vùng có khoảng 20.000ha bị ảnh hưởng do mùa khô kéo dài, hạn hán vào tháng 5 và tháng 6; lượng mưa trái mùa, lũ lụt vào tháng 10, người dân không thể kiểm soát được. Nguyên nhân khác là một số diện tích cà phê tái canh chưa cho thu hoạch và người dân chuyển sang cây trồng hiệu quả như rau, hoa…, đồng thời do giá cà phê xuống thấp nên việc đầu tư chăm sóc vườn cây của người dân hạn chế.
Bên cạnh đó, giai đoạn 2019 - 2021 là thời điểm dịch bệnh diễn ra, người bị dân hạn chế đi lại và canh tác, thiếu nhân công, ảnh hưởng đến quá trình thu hoạch nên sản lượng cà phê không cao. 14 Thư viện ĐH Thăng Long Hình 2.