Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2005 - 2014 ghi nhận bước chuyển mình mạnh mẽ của du lịch tỉnh Bạc Liêu với tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân đạt 22% mỗi năm. Tổng lượng khách đến địa phương năm 2014 đạt 973.000 lượt, tăng gấp 2,4 lần so với năm 2010. Doanh thu toàn ngành du lịch cũng tăng hơn 4,5 lần, từ 180 tỷ đồng năm 2005 lên mức 857 tỷ đồng vào năm 2014. Mặc dù sở hữu sự tăng trưởng ấn tượng về số lượng, du lịch Bạc Liêu vẫn phát triển theo xu hướng nóng, quy mô mở rộng nhanh nhưng chiều sâu chất lượng chưa tương xứng. Tỷ lệ khách lưu trú năm 2014 chỉ chiếm 30,83% tổng lượt khách, thời gian lưu trú bình quân dừng lại ở mức rất thấp là 1,26 ngày và tỷ trọng đóng góp vào GDP toàn tỉnh mới chỉ đạt 2,40%.

Trước bối cảnh Bạc Liêu xác định chủ trương phát triển đi lên từ văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TU của Tỉnh ủy, loại hình du lịch tâm linh, đặc biệt là du lịch tín ngưỡng, tôn giáo nổi lên như một trụ cột kinh tế giàu tiềm năng. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành của tác giả Lê Thị Kim Ngoan, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Triệu Thế Việt tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết này. Đề tài hướng đến mục tiêu đánh giá toàn diện tiềm năng, thực trạng khai thác tại các điểm tín ngưỡng tôn giáo tiêu biểu như Quán Âm Phật Đài, Nhà Thờ Tắc Sậy, Chùa Giác Hoa, Chùa Hưng Thiện và Chùa Xiêm Cán, từ đó xác lập các giải pháp chiến lược nhằm phát triển ngành du lịch địa phương theo hướng bền vững.

Phạm vi nghiên cứu không gian bao quát toàn bộ địa bàn hành chính tỉnh Bạc Liêu, tập trung chuyên sâu vào các cụm điểm di tích tâm linh trọng điểm. Khung thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp được giới hạn từ năm 2005 đến năm 2016, kết hợp với các đợt khảo sát thực địa chuyên sâu được triển khai từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2018. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua việc kéo dài ngày lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách, mà còn bảo tồn các giá trị di sản văn hóa độc đáo của cộng đồng ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng lý luận vững chắc dựa trên sự kết hợp giữa mô hình phát triển du lịch của Nguyễn Đình Hòe và khung 12 mục tiêu phát triển du lịch bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Mô hình của Nguyễn Đình Hòe chỉ rõ sự tiến hóa qua ba hình thái: du lịch áp đặt trong thời kỳ bao cấp, du lịch thị trường ồ ạt mang tính thương mại hóa cao, và mô hình du lịch bền vững vận hành theo cơ chế từ dưới lên, chú trọng sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương. Đối với loại hình du lịch tín ngưỡng tôn giáo, việc theo đuổi mô hình bền vững giúp hạn chế tình trạng thương mại hóa di tích và bảo vệ môi trường sinh thái.

Khung lý thuyết của công trình làm rõ bốn khái niệm cốt lõi:

  • Du lịch tín ngưỡng, tôn giáo: Loại hình du lịch văn hóa khai thác các giá trị di sản vật thể và phi vật thể gắn liền với đức tin, nơi thờ tự và các thực hành tâm linh nhằm thỏa mãn nhu cầu chiêm bái, tìm hiểu văn hóa của du khách.
  • Tài nguyên du lịch văn hóa: Toàn bộ các công trình kiến trúc, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán có sức hấp dẫn du khách và đủ điều kiện chuyển hóa thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
  • Tính thiêng của điểm đến: Yếu tố then chốt tạo nên động lực viếng thăm lặp lại, xuất phát từ niềm tin tâm linh và các truyền thuyết dân gian gắn với địa danh.
  • Ba cấp độ phát triển du lịch tôn giáo: Bao gồm cấp độ tham quan khám phá kiến trúc cảnh quan; cấp độ tham gia tổ chức các hoạt động hành lễ, sự kiện; và cấp độ hành hương trải nghiệm sâu sắc đời sống tinh thần.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2005 - 2016 được thu thập từ báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu, Niên giám thống kê tỉnh và các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trực tiếp với cỡ mẫu 300 phiếu khảo sát du khách tại Quán Âm Phật Đài và Nhà Thờ Tắc Sậy trong giai đoạn 2017 - 2018.

Phương pháp chọn mẫu định ngạch kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm đối tượng khách về độ tuổi, giới tính, vùng miền cư trú và mục đích chuyến đi. Tác giả sử dụng phương pháp thang điểm tổng hợp gồm 8 tiêu chí định lượng: tính hấp dẫn tài nguyên, tính liên kết không gian, cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật, thời gian khai thác, vị trí và khả năng tiếp cận, tính an toàn, tính bền vững và sức chứa du lịch. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác tiềm năng khai thác, chỉ rõ điểm nghẽn của từng di tích, từ đó cung cấp căn cứ khách quan cho việc hoạch định chiến lược đầu tư.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2005 - 2014 cho thấy cơ cấu luồng khách có sự chênh lệch rất lớn. Khách nội địa giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối, tăng từ 134.000 lượt năm 2005 lên 948.000 lượt năm 2014, chiếm tỷ trọng 96,5% tổng lượng khách toàn tỉnh. Ngược lại, khách quốc tế chỉ đạt 25.000 lượt vào năm 2014, tỷ trọng sụt giảm từ 4,29% năm 2005 xuống còn 2,50% năm 2014. Tốc độ tăng trưởng khách nội địa duy trì ở mức cao trên 23,5%/năm, khẳng định sức hút tự nhiên của các điểm đến tâm linh đối với người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ.

Cơ cấu chi tiêu của du khách thể hiện rõ sự bất cập trong chuỗi cung ứng dịch vụ. Doanh thu từ mua sắm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 32%, dịch vụ ăn uống chiếm 30%, trong khi doanh thu từ dịch vụ lưu trú chỉ chiếm 18%. Nguyên nhân xuất phát từ việc hệ thống lưu trú phát triển chậm, toàn tỉnh năm 2014 chỉ có 40 cơ sở lưu trú với 830 buồng, trong đó 28 cơ sở được xếp hạng sao với 730 buồng. Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch chỉ đạt 1,26 ngày (khách quốc tế 1,10 ngày và khách nội địa 1,25 ngày), phản ánh tình trạng phần lớn du khách chỉ đi tour trong ngày rồi di chuyển sang các địa phương lân cận.

Kết quả đánh giá theo thang điểm tổng hợp 8 tiêu chí tại các điểm di tích trọng điểm ghi nhận sự phân hóa rõ rệt:

  • Quán Âm Phật Đài: Đạt điểm tối đa 4/4 về tính hấp dẫn nhờ tượng Phật Bà Nam Hải cao 11 mét gắn với truyền thuyết che chở ngư dân miền biển. Điểm liên kết đạt mức xuất sắc 4/4 khi kết nối thuận tiện với 6 điểm du lịch trong bán kính 10 km (Khu du lịch Nhà Mát, Khu lưu niệm Cao Văn Lầu, Vườn chim Bạc Liêu, Chùa Xiêm Cán, Vườn nhãn, Nhà Công tử Bạc Liêu). Sức chứa đạt 4/4 với khả năng đón trên 500 khách cùng lúc mà không gây quá tải môi trường. Tuy nhiên, tính an toàn chỉ đạt 2/4 do tình trạng ăn xin, chèo kéo và bán hàng rong phức tạp.
  • Nhà Thờ Tắc Sậy: Đạt điểm số cao về tính hấp dẫn và khả năng liên kết vùng dọc tuyến Quốc lộ 1A. Cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư khang trang nhưng cũng gặp thách thức tương tự về trật tự an toàn xung quanh khuôn viên.
  • Chùa Giác Hoa và Chùa Hưng Thiện: Điểm tính hấp dẫn đạt mức 3/4, khả năng liên kết đạt 3/4, song cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ trợ còn hạn chế, chỉ đạt mức trung bình 2/4.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thực trạng du lịch Bạc Liêu có thể được trình bày hiệu quả thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tương quan tăng trưởng giữa khách nội địa và khách quốc tế giai đoạn 2005 - 2014, kết hợp với biểu đồ tròn minh họa cơ cấu nguồn thu du lịch (mua sắm 32%, ăn uống 30%, lưu trú 18%, dịch vụ khác 20%). Ngoài ra, biểu đồ mạng nhện (radar chart) là phương thức trực quan nhất để so sánh 8 chiều tiêu chí đánh giá giữa Quán Âm Phật Đài, Nhà Thờ Tắc Sậy và Chùa Giác Hoa, giúp nhận diện ngay các điểm khuyết về an ninh trật tự và hạ tầng lưu trú.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng doanh thu lưu trú thấp và tính an toàn chưa cao là do du lịch tín ngưỡng Bạc Liêu phát triển mang tính tự phát, phụ thuộc nặng nề vào các mùa lễ hội cao điểm như Lễ hội Quán Âm Nam Hải (tháng 3 âm lịch) hay ngày giỗ Cha Trương Bửu Diệp. Công tác quản lý điểm đến chưa có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan quản lý du lịch và ban trị sự các cơ sở tôn giáo.

So sánh với các nghiên cứu điển hình tại Ninh Bình (Chùa Bái Đính, Nhà thờ đá Phát Diệm) và Nam Định (Khu di tích Phủ Dầy, Đền Trần), Bạc Liêu sở hữu lợi thế cạnh tranh độc nhất vô nhị nhờ sự giao thoa văn hóa tín ngưỡng của ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer. Toàn tỉnh có 124 tự viện với gần 500 Tăng Ni thuộc nhiều hệ phái (Bắc tông, Nam tông Khmer, Khất sĩ, Thiền tông) và trên 21.000 giáo dân Công giáo sinh hoạt tại 13 nhà thờ. Báo cáo của UNWTO ước tính khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm hơn 50% trong tổng số 600 triệu chuyến du lịch tôn giáo toàn cầu. Điều này chứng minh tiềm năng phát triển của Bạc Liêu còn rất lớn nếu địa phương giải quyết triệt để các rào cản về hạ tầng và an ninh trật tự.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển hóa tiềm năng thành động lực kinh tế cụ thể, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Nâng cấp hạ tầng giao thông và chỉnh trang không gian điểm đến: Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu phối hợp với Sở Giao thông Vận tải và chính quyền thành phố Bạc Liêu, thị xã Giá Rai tiến hành mở rộng các tuyến đường trục dẫn vào Quán Âm Phật Đài và Nhà Thờ Tắc Sậy. Tổ chức quy hoạch lại toàn diện khu vực bãi đỗ xe đạt chuẩn, xây dựng hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt tiêu chuẩn phục vụ du lịch và lắp đặt biển chỉ dẫn đa ngữ. Mục tiêu cụ thể là giảm 90% tình trạng ùn tắc giao thông cục bộ trong các dịp lễ hội lớn, nâng điểm đánh giá cơ sở hạ tầng từ 3/4 lên 4/4 trong giai đoạn 2019 - 2022.

  2. Đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch bổ trợ và kích cầu lưu trú: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các gói tour chuyên đề kết nối du lịch tâm linh với du lịch sinh thái và văn hóa di sản. Phát triển sản phẩm du lịch ẩm thực chay đặc trưng, tổ chức các khóa trải nghiệm thiền tịnh ngắn ngày và biểu diễn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ vào ban đêm. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của khách du lịch từ 1,26 ngày lên mức 2,0 ngày, đưa tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ lưu trú vượt ngưỡng 25% tổng doanh thu du lịch vào năm 2023.

  3. Thiết lập cơ chế liên ngành quản lý trật tự và bảo vệ môi trường: Ban Trị sự Quán Âm Phật Đài, Hội đồng Giáo xứ Tắc Sậy phối hợp chặt chẽ với Công an địa phương thành lập đội phản ứng nhanh chuyên trách giữ gìn an ninh trật tự. Kiên quyết xóa bỏ tình trạng chèo kéo khách, ăn xin giả dạng, mê tín dị đoan và buôn bán hàng rong lấn chiếm khuôn viên. Bố trí mạng lưới thùng rác phân loại đồng bộ, đảm bảo 100% rác thải phát sinh được thu gom xử lý trong ngày. Mục tiêu nâng điểm tiêu chí an toàn tại các điểm đến từ 2/4 lên tối thiểu 3,5/4 trong giai đoạn 2019 - 2021.

  4. Hoàn thiện chính sách điều tiết kinh tế và tăng cường liên kết vùng: Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu xây dựng cơ chế tài chính minh bạch, điều tiết hợp lý nguồn thu công đức và phí dịch vụ du lịch để tái đầu tư vào việc tu bổ di tích, nâng cao phúc lợi cho cộng đồng dân cư sở tại. Đẩy mạnh liên kết tuyến du lịch tâm linh liên tỉnh Cần Thơ - Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau. Mục tiêu chiến lược đưa tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GDP tỉnh Bạc Liêu tăng từ mức 2,40% lên trên 4,50% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và chính quyền địa phương: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để xây dựng các đề án quy hoạch, ban hành chính sách quản lý điểm đến và cụ thể hóa các mục tiêu phát triển du lịch của Nghị quyết số 02-NQ/TU.

  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành: Các công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng trong và ngoài tỉnh khai thác hệ thống dữ liệu khảo sát về hành vi, nhu cầu và mức chi tiêu của du khách để thiết kế các chương trình tour hấp dẫn, định giá dịch vụ phù hợp và đầu tư sản phẩm lưu trú, ẩm thực chất lượng cao.

  3. Ban quản lý di tích và các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng: Ban Quản trị Quán Âm Phật Đài, Nhà Thờ Tắc Sậy và các cơ sở thờ tự ứng dụng mô hình quản lý văn minh, nâng cao kỹ năng ứng xử tiếp đón du khách thập phương, tổ chức các nghi lễ trang nghiêm và loại trừ các biểu hiện tiêu cực làm suy giảm tính thiêng.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch: Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Du lịch học, Văn hóa học và Quản trị Lữ hành sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo giá trị về khung lý thuyết đánh giá tài nguyên văn hóa, phương pháp nghiên cứu thực địa 300 mẫu và cách tiếp cận phát triển du lịch bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng nổi bật nhất của du lịch tín ngưỡng, tôn giáo tại Bạc Liêu giai đoạn 2005 - 2014 là gì? Ngành du lịch Bạc Liêu đạt tốc độ tăng trưởng khách nhanh 22%/năm, đạt 973.000 lượt khách năm 2014. Tuy nhiên, thị trường chủ yếu là khách nội địa (chiếm 96,5%), khách quốc tế chỉ chiếm 2,5%. Khách lưu trú đạt tỷ lệ thấp 30,83% với số ngày lưu trú vỏn vên 1,26 ngày, khiến đóng góp vào GDP toàn tỉnh mới dừng ở mức 2,40%.

Hai điểm du lịch tín ngưỡng tôn giáo nào có sức hút lớn nhất tỉnh Bạc Liêu? Quán Âm Phật Đài và Nhà Thờ Tắc Sậy là hai hạt nhân du lịch tâm linh tiêu biểu nhất. Cả hai điểm đều đạt điểm tối đa 4/4 về tính hấp dẫn tài nguyên và khả năng liên kết không gian trên 5 điểm du lịch vệ tinh trong bán kính 10 km, hàng năm thu hút hàng trăm nghìn lượt khách hành hương.

Những hạn chế lớn nhất tại các điểm du lịch tâm linh Bạc Liêu hiện nay là gì? Hạn chế lớn nhất nằm ở tiêu chí an toàn trật tự chỉ đạt 2/4 điểm do xuất hiện tình trạng ăn xin, chèo kéo, buôn bán hàng rong lấn chiếm. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở lưu trú còn nghèo nàn (năm 2014 chỉ có 40 cơ sở với 830 buồng) và thiếu sản phẩm dịch vụ ban đêm để giữ chân du khách.

Mô hình phát triển du lịch bền vững được vận dụng như thế nào trong nghiên cứu? Nghiên cứu ứng dụng mô hình du lịch bền vững theo cơ chế từ dưới lên, nhấn mạnh việc tối đa hóa lợi ích kinh tế giữ lại cho cộng đồng bản địa, bảo vệ môi trường cảnh quan và giữ gìn không gian thiêng liêng nguyên bản của các di tích tôn giáo Kinh, Hoa, Khmer.

Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá năng lực khai thác của các điểm đến? Tác giả xây dựng phương pháp thang điểm tổng hợp dựa trên 8 tiêu chí cốt lõi (tính hấp dẫn, tính liên kết, cơ sở hạ tầng, thời gian khai thác, vị trí tiếp cận, tính an toàn, tính bền vững, sức chứa), kết hợp khảo sát thực địa bằng 300 phiếu hỏi để đảm bảo tính chuẩn xác.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khung lý luận chuyên sâu về du lịch tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với 12 mục tiêu phát triển bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới.
  • Phân tích bức tranh thực trạng du lịch Bạc Liêu giai đoạn 2005 - 2014 với mức tăng trưởng lượng khách 22%/năm, doanh thu đạt 857 tỷ đồng nhưng chỉ đóng góp 2,40% vào GDP tỉnh.
  • Đánh giá định lượng năng lực khai thác của các điểm đến tâm linh trọng điểm thông qua bộ công cụ thang điểm tổng hợp 8 tiêu chí khoa học.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm hoàn thiện hạ tầng, kéo dài thời gian lưu trú lên 2,0 ngày và kiểm soát trật tự an toàn.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ đắc lực cho mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Tỉnh ủy Bạc Liêu.

Công trình nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu thực chứng quý giá cho công tác quy hoạch du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn 2021 - 2025, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các đề án liên kết tour tuyến tâm linh liên vùng. Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn để khai thác chi tiết hệ thống bảng số liệu và các giải pháp chuyên sâu.