Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN LIÊN QUAN ĐỂN ĐÈ TÀI 1. Một số khái niệm 1. Du lịch Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phô biển, du lịch là một đề tài hấp dẫn trờ thành vấn đề mang tính chất toàn cầu. Có nhiều thuật ngữ về khái niệm du lịch, sau đây là một số định nghĩa về du lịch: “Hiệp hội quốc tế các tô chức du lịch IUOTU (International of Union Official Travel Oganization) năm 1925 tại Hà Lan.
Khải niệm du lịch luôn được bàn với các quan diêm khác nhau. Đâu tiên, du lịch được hiên là sự đi lại cùa từng cá nhân hoặc nhóm người rời khôi noi cư trú cùa mình trong khoảng thời gian ngan đến các vùng xung quanh đê vui chơi, giãi tri, chữa bệnh. ” Tô chức du lịch thế giới (UNWTO) năm 1994. Đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyên tạm thời của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên cùa họ nhằm mục đích giãi trí, nghi ngơi, văn hóa, dưỡng sức, và những li do không đê kiêm sông”.
Theo Luật du lịch (2017) đưa ra khái niệm. “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nham đáp ứng nhu cầu tham quan, nghi dưỡng, giãi trí, tìm hiểu, khảm phả tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Từ những quan diêm trên, khái niệm về du lịch có thê hiêu là : Du lịch là sự di chuyên ra khỏi nơi cư trú cùa mình trong thời gian rảnh rỗi của cả nhãn hay tập thê nham mục đích thỏa mãn nhu cầu giãi trí, tham quan, phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, thời gian không quá một năm, không nhằm mục đích kiếm tiền. Du lịch sinh thái 1 Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm mới và có nội hàm rộng.
Tùy vào từng góc độ tiếp cận mà khái niệm về DLST lại được thê hiện một cách khác nhau. Đổi với một số người, DLST đơn giản được hiêu là sự kết hợp ý nghĩa cùa 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc. Song đứng ờ góc nhìn rộng hơn, tông quan hơn thì một số người quan niệm DLST nghĩa là du lịch thiên nhiên. Trong công trình nghiên cứu về đề tài “DLST những vấn đề ỉý luận và thực tiễn phát triên ớ Việt Nam ” (2002), tác giả Phạm Trung Lương đã đề cập và liệt kê một số loại hình khác nhau, cùng với các quan diêm, khái niệm của các cá nhân, tô chức, hiệp hội, các quốc gia trong và ngoài nước liên quan đến DLST.
Cụ thê: “Ve một số ìoại hình khác nhau cùa DLST. Theo tác giã DLST còn được biết đến dưới nhiều toại hình khác nhau: Du tịch thiên nhiên (Natural tourism);Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural-based tourism;Du lịch môi trường (Environmental tourism) ;Du lịch đặc thù (Particular tourism);Du lịch xanh (Green tourism);Du lịch thảm hiêu (Adventure tourism); Du lịch bán xứ (Indigenous tourism); Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism); Du lịch nhạy câm (Sensitized tourism); Du lịch nhà tranh (Cottage tourism); Du lịch bền vừng (Sustainable tourism). ” về các quan diêm, khái niệm cùa các cá nhân, tô chức, hiệp hội, các quốc gia trong và ngoài nước liên quan đến DLST. • ơ phạm vi cá nhân: Theo Hector Ceballos - Lascurain đưa ra năm 1987: ‘DLST là du lịch đên những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đôi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [13;tr.
Theo Wood (1991): “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đoi hoang sơ với mục đích tìm hiêu về lịch sứ môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đôi sự toàn vẹn cùa các hệ sinh thái. Đông thời tạo những cơ hội về kinh tế đê ủng hộ về bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chỉnh cho người dân địa phương”[13;tr. Theo Allen (1993): “DLST được phân biệt với loại hình du lịch tự nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra moi quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục 2 đê biên bản thân khách du lịch thành những người đi đâu trong công tác bào vệ môi trường.
Phát triên du lịch sinh thái sẽ ỉàm giám thiêu tác động cùa khách du lịch đên văn hỏa và môi trường, đâm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang ỉại và chủ trọng đến những đóng góp tài chỉnh của việc báo tồn thiên nhiên ” [13; tr. • ơ phạm vi quốc gia: Định nghĩa của Nepal: “DLST ỉà loại hình đu lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quán ỉý các tài nguyên du lịch đê tăng cường phát triên cộng đông, liên kêt giữa báo tôn thiên nhiên và phát triên du lịch, đồng thời sử dụng thu thập từ du lịch đê bão vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào ” [13, tr. Định nghĩa của Malaysia: “DLST là hoạt động du lịch và thấm viếng một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hường và trân trọng các giả trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đây công tác bào tồn, có ánh hướng của du khách không lởn và tạo điều kiện cho dân chủng địa phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế” [13, tr. Định nghĩa của Australia: “DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giãi về môi trường thiên nhiên, được quân lý vừng về mặt sinh thái ”[13;tr.
Định nghĩa cùa Việt nam, trong lần hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát trỉên DLST ở Việt Nam ” từ 7/9/1999 đến 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về DLST: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và vãn hóa bân địa gan với giảo dục môi trường, cỏ đóng góp cho nồ lực báo vệ và phát triền bền vừng, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. • ơ phạm vi hiệp hội, tô chức: Theo định nghĩa của Hiệp hội DLST Quốc tế: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [13;tr.Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ (1998): “DLST là du lịch có mục đích với các khu vực tự nhiên, hiêu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đôi tình 3 trạng của hệ sinh thải, đồng thời ta có cơ hội đê phát triên kính tế, bào vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và ỉợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” [13; tr. Và còn nhiều quan điêm và khái niệm khác nữa. Tuy nhiên, qua các khái niệm nêu trên chúng ta thấy rằng, dù mỗi khái niệm có cách diễn đạt khác nhau nhưng về cơ bản giữa chúng đều có sự thống nhất một số nội dung: - DLST được thực hiện trên nền tảng thiên nhiên gắn với những giá trị của văn hóa bản địa.
DLST tạo điều kiện cho việc bảo tồn và phát triển các giá trị ựr nhiên, văn hóa và xã hội một cách bền vững. DLST nâng cao nhận thức và trách nhiệm của con người đổi với môi trường. DLST tạo điều kiện cho cộng đong công dân địa phương được tham gia và hưởng lợi ích từ đó. Tìr đó, có thê tông quát rang: DLST là một loại hình du lịch, hướng đến một sự phát triên bền vững.
Nội dung cùa nó có thê được thực hiện trên nền tảng thiên nhiên gắn với những giá trị của văn hóa bản địa, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của con người đổi với môi trường, tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân địa phương được tham gia và hưởng lợi ích từ đó. Đặc biệt là tạo điều kiện cho việc bảo tồn và phát triên các giá trị ựr nhiên, văn hóa và xã hội một cách bền vững. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng mang lại nhiều giá trị lợi ích to lớn trên nhiều khía cạnh: kinh tế, xã hội. Các lợi ích về mặt kinh tế cải thiện đời sống dân cư là những kết quả không thê phù nhận.
Bên cạnh đó là những kết quả đạt được trong việc giáo dục tuyên truyền bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị ựr nhiên và nhân văn của cộng đồng. Đồng thời thúc đây các hoạt động phát triển bền vững; phát huy tối đa các nguồn lực kinh tế cùng tham gia vào hoạt động du lịch. Việc thực hiện các hoạt động này đem lại những mối quan hệ tương quan lớn về lợi ích giữa các đổi tượng tham gia. - Theo nhà nghiên círu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009/’ "Du lịch sinh thái cộng đồng ĩà một hình thải đu lịch trong đó chủ yếu ỉà người dân địa phương đứng ra phát triên và quán lý.
Lợi ích kinh tê có được từ đu lịch sẽ đọng lại nên kinh tế địa phương". - Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh thái cộng đồng là "phương thírc tô chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội. Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ". - Ý ưrởng đang sau vế "dựa vào cộng đồng" của chiến lược môi trường là tạo cơ hội trao quyền cho cộng đong, tăng cường sự tham gia của họ trong việc ra quyết định, nhưng cũng chi đơn giản là những điều này sẽ khuyển khích sự tham gia từ bản thân cộng đồng.
- Nhir vậy, du lịch sinh thái cộng đồng chính là nét tinh túy cùa du lịch sinh thái và du lịch bền vững. Du lịch sinh thái cộng đong nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi trường, du lịch và cộng đồng. Sân phâm du lịch Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến sản phàm du lịch: Theo khoản 5 Điều 3 Luật Du lịch 2007 thì sản phâm du lịch được giải thích như sau: “Sân phâm đu lịch là tập họp các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch đê thoá mãn nhu cầu cùa khách tham quan".