CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Đa số các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng ĐNGV là một trong những vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời, kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp QLGD.
Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V.Lenin đã rất coi trọng ĐNGV, ông viết: “Chúng ta phải làm cho ĐNGV ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản” [65-tr. Trong báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức đã nói đến những vai trò của giáo viên trong thời đại mới, đó là: vai trò người thiết kế, vai trò người tổ chức, vai trò người canh tân, vai trò người cổ vũ. Để thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng giáo viên như: - Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy mới nhất; - Giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là người thợ dạy (chuyên gia truyền đạt kiến thức); - Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học phải tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền. Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng giáo viên cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển GD&ĐT và nhu cầu tăng trưởng kinh tế.
Chương trình nghiên cứu của các nước thành viên OECD đã chỉ ra giáo viên cần có các phẩm chất sau: - Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; - Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; - Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; - Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [42]. Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nê-pan năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”. Tháng 4 năm 2000, tại Dakar-Senegan, diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức đã coi chất lượng giáo viên là một trong 10 yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là giáo viên có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học [66-tr.
Michel Develay xuất phát từ lý luận về học đến lý luận về dạy để bàn về vấn đề đào tạo giáo viên với quan niệm “Đào tạo giáo viên mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [46-tr. Tại Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng cho ĐNGV và quy định trong thời gian 3 tháng cần bồi dưỡng những nội dung gồm: Giáo dục nghiệp vụ dạy học; Cơ sở tâm lý giáo viên; Phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh. đối với ĐNGV mới vào nghề chưa quá 3 năm. Ở Philippine, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè.
Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người; triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục; Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo. Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Tại Triều Tiên, một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, yêu cầu tất cả giáo viên phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quy định. Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng ĐNGV được thực hiện trong 10 năm và “chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài.
Ở Việt Nam Từ xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng và đánh giá cao vai trò của người thầy giáo “Không thầy đố mày làm nên”, không có thầy giáo thì không có giáo dục. Để giáo dục phát triển toàn diện rất cần sự quan tâm về mọi mặt của toàn xã hội và cần có sự quan tâm đặc biệt đến phát triển ĐNGV. Trong thư gửi cho ngành Giáo dục ngày 16 tháng 10 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới” [48], “Cán bộ và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [49-tr. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sau các cuộc cải cách giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu đã để lại những kinh nghiệm quý về xây dựng và phát triển ĐNGV như: - Nguyễn Thị Phương Hoa (2002), Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên; - Đinh Quang Báo (2005), Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; - Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên; 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dưới góc độ QLGD theo ngành, cấp học đã được thực hiện.
Và trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành QLGD, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu có hệ thống. Nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nhân sự, trong đó có vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên. Có thể kể đến nghiên cứu của tác giả Vũ Đình Chuẩn “Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa” và của nhiều tác giả ở các tỉnh thành như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Giang. Các công trình nghiên cứu phát triển đội ngũ theo 3 hướng như sau: - Nghiên cứu phát triển ĐNGV dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực; - Nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; - Đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ở địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chất lượng ĐNGV được quan tâm đầu tư và hầu hết đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo nhưng do đội ngũ giáo viên được đào tạo từ nhiều Trường Đại học khác nhau (Có giáo viên được đào tạo tại trường Đại học sư phạm ở rất nhiều nơi trong nước; giáo viên được đào tạo tại các khoa Sư phạm của trường đại học đa ngành; một bộ phận được đào tạo theo hình thức đào tạo khác.) do đó vẫn còn có những hạn chế đòi hỏi phải có những biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Đồng thời, sau khi Bộ GD&ĐT ban hành Bộ chuẩn nghề nghiệp, Sở GD&ĐT Điện Biên đã triển khai thực hiện quy định này trong các nhà trường. Thực tế trên địa bàn huyện Điện Biên chưa có đề tài khoa học nào đề cập đến vấn đề phát triển ĐNGV các trường THPT theo Chuẩn nghề nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu phát triển ĐNGV trường THPT huyện Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp là rất cần thiết.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Nhân lực, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Nhân lực Nhân lực là lực lượng con người được huy động vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển xã hội dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người); vật lực (nguồn lực vật chất: công cụ lao động, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên.
Song chỉ có con người mới tạo ra 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất thì năng lực đó là nội lực con người. Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nội lực quan trọng nhất trong thế giới hiện đại. Đặc biệt đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước ta, dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nội lực quan trọng nhất.
Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên động lực cho sự phát triển [39].