Chương 1 DANG BỘ HUYỆN TAM DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIEN GIÁO DUC PHO THONG TỪ NĂM 2000 DEN NĂM 2005 1. DAC DIEM KINH TE - XÃ HỘI VA TINH HÌNH GIAO DỤC PHO THONG CUA HUYEN TAM DUONG 1.1 Dia giới hành chính Huyện Tam Dương là một vùng đất tối cỗ của tỉnh Vĩnh Phúc. Tính theo tuổi địa chất, phần đất phía Tây của huyện từ dọc sông Phó Đáy tới huyện ly Tam Dương ra đời từ thoi đại Nguyên Sinh cách đây trên 1.200 triệu năm; các phần còn lại hình thành vào Đại Tân Sinh cách đây khoảng 50 triệu năm Toàn bộ vùng đất nói trên, thời dựng nước, nằm trong bộ Văn Lang, đất cội nguồn dân tộc. Thời Bắc thuộc, năm trong huyện Mê Linh, đất của Lạc tướng Mê Linh, thân sinh của Hai bà Trưng.
Cho tới thời phong kiến tự chủ nước ta, vào thời nhà Tran (thé ky XIII — XIV) mới xuất hiện huyện Dương, thuộc phủ Tuyên Hóa, Trấn Tuyên Quang. Đến thời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận (1460 — 1469), chính thức đổi tên thành huyện Tam Dương, thuộc phủ Đoan Hùng, Trấn Sơn Tây. Đời Nguyễn năm 1830, đổi thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây. Năm 1899, thuộc tỉnh Vĩnh Yên Địa giới hành chính như trên ton tại đến sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
Từ năm 1946, Tổng Yên Dương nhập về huyện Lập Thạch. Tháng 8 — 1946, xã Hợp Thịnh, Đồng Tâm (Vân Hội), Hanh Phúc (Khai Quang) nhập về Vĩnh Yên. Đầu năm 1947 các xã trên lại về huyện Tam Dương. Ngày 1 - 2 - 1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 459-TTg tái lập thị xã Vĩnh Yên với 4 khu phó, xã Tích Sơn và các xã thuộc Vĩnh Yên 12 ngày nay vẫn thuộc huyện Tam Dương.
Ngày 5 - 7 - 1977, Chính phủ ra Nghị định 178/CP nhập các xã Khai Quang, Dinh Trung và thị tran Tam Đảo về thị xã Vĩnh Yên. Tháng 2 - 1968, tỉnh Vĩnh Phúc hợp nhất với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, Tam Dương là một huyện của tỉnh Vĩnh Phú. Tháng 10 - 1977, huyện Tam Dương hợp nhất với huyện Lập Thạch thành huyện Tam Đảo. Tháng 12 -1978, huyện Lập Thạch tách khỏi huyện Tam Dao, lập lại huyện Lập Thạch như cũ; huyện Bình Xuyên tách khỏi huyện Mê Linh dé Nhap với Tam Dương thành huyện Tam Dao mới, tồn tại đến thang 6 — 1998.
Ngày 9 - 6 — 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 36/1998/NĐ-CP, chia tách huyện Tam Đảo thành hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên. Huyện Tam Dương tái lập có 17 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 1 thị trấn. Ngày 18 - 8 - 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/1999/NĐ- CP điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Vĩnh Yên. Theo đó, thị tran Tam Dương, thôn Lai Sơn (thuộc xã Thanh Vân) và khu Đồi Son (thuộc xã Vân Hội) của huyện Tam Dương sáp nhập vào thi xã Vĩnh Yên.
Huyện Tam Dương ngày nay có 13 đơn vị hành chính trong đó có 12 xã va | thi tran là Hợp Thịnh, Duy Phiên, Hoàng lâu, An Hòa, Hoang Đan, Đạo Tú, Thanh Vân, Đồng Tĩnh, Hướng Đạo, Kim Long, Hoàng Hoa, Vân Hội, Hợp Hòa; có 35 đơn vi, cơ quan đóng trên địa ban, toàn huyện có 58 làng (thôn) như sau: - Xã An Hòa có 7 làng: Đô Lương, Hương Đình, Nội Điện, Ngọc Thạch 1, Ngọc Thạch 2, Phương Lâu, Yên Phượng. - Xã Duy Phiên có 2 làng: Duy Hàn, Phú Vinh. - Xã Đạo Tú có 4 làng: Câm Trạch, Đạo Tú, Long Trì, Thụy Yên. - Xã Đồng Tĩnh có 3 làng: Diện, Phan Thạch, Phù Liễn.
13 - Xã Hoàng Dan có 2 làng: Dan Trì, Hoang Vân. - Xã Hoàng Lâu có 3 làng: Hoàng Chuế, Lực Điền, Thư Lâu. - Thi tran Hợp Hòa có 4 làng và 1 phố: Bảo Chúc, Điền Lương, Liên Bình, Vinh phú và Phố Me. - Xã Hợp Thịnh có I làng: Hội Ha (làng Hạ).
- Xã Hướng Đạo có 5 làng: Làng Chùa, Điền Phú, Hướng Đạo, Yên Liệp, Yên Sơn. - Xã Kim Long có 13 làng: Ấp Đồn, Đồng Áng, Đồng Bông, Đồng Bắc, Đồng Mận, Đồng Vang, Lang G6, Lang Hà, Hữu Thủ, Hop Minh, Làng Láng, Lan Đình, Số 8. - Xã Thanh Vân có 6 làng và I phố: Nhân Mỹ, Phú Ninh, Phúc Lai, Xóm Mới, Xuân Trường, Viên Du và Phố Thanh Vân. - Xã Vân Hội có 3 làng: Chan Yên, Yên Hội, Vân Tập.
- Xã Hoàng Hoa có 3 làng: Làng Vẽ, Lũng Hữu, Tần Lung. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Phía Đông Tam Dương giáp huyện Bình Xuyên và thị xã Vĩnh Yên; phía Tây giáp huyện Lập Thạch; phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc; phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và huyện Đại từ (tỉnh Thái Nguyên). Tổng diện tích tự nhiên của huyện Tam Dương hiện nay là 10.821,43 ha, dân số có 95. Mật độ dân số trung bình 923 người/km”.
Số người trong độ tuổi lao động có 50.459 người, lao động nông nghiệp là 39.284 người, chiếm 86% tông số lao động toàn huyện. Tam Dương là vùng chuyền tiếp giữa vùng đồng băng và vùng đồi núi của tỉnh, nên địa hình rất đa dạng và phong phú và phức tạp có ưu thế với đủ cả 3 vùng sinh thái: Miền núi, trung du và đồng bằng. Chính lợi thế đó đã tạo nên một Tam Dương có khí hậu ôn hòa, cảnh săc đa dạng. Vùng rừng núi 14 năm ở phía bắc của huyện, tiếp giáp với núi rừng của hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên.
Trải dai theo hướng Tây Bắc — Đông Nam là dãy núi Tam Đảo với khoảng 30 km, vùng đồng bằng ở phía Tây Nam của huyện. Khí hậu Tam Dương mang tính nhiệt đới gió mùa âm, mùa hè nóng, mưa nhiêu và mùa đông lạnh, mưa ít. Tam Dương có đủ bôn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Sự luân chuyên các mùa làm cho khí hậu Tam Dương thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng.
Trên địa bàn huyện tuy không có sông lớn chảy qua, nhưng có một số sông nhỏ như suối Cầu Tre, bắt nguồn từ Thác Bạc (núi Tam Đảo) đồ nước xuống suối làng Hà (xã Hồ Sơn) rồi hợp với suối Xạ Hương, Bàn Long (xã Minh Quang - Bình Xuyên) chảy xuống các xã Gia Khánh, Hương Sơn, Tam Hợp rồi dé vào sông Cách (ở xã Tam Hợp). Huyện Tam Dương có một đoạn của sông Phó Day từ Tuyên Quang chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Lập Thạch), chảy qua địa phận huyện Tam Dương và Vĩnh Tường (bên bờ trái) dai hơn 40 km rồi đồ vào sông Lô. Sông Phó Đáy là đường phân giới tự nhiên giữa huyện Tam Dương và huyện Lập Thạch. Nay bắc qua sông có thêm cầu Bến Gạo trên địa phận xã Đồng Ích (Lập Thạch) và Hoàng Đan (Tam Dương), tạo thuận lợi cho giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội giữa Lập Thạch - Tam Dương và các huyện khác trong tỉnh.
Sông Phó Đáy chảy qua địa phận huyện Tam Dương tuy ngắn nhưng cũng mang lại nhiều lợi ích đối với đời sống và sản xuất của nhân dân ven sông. Ngoài nguồn thủy sản, vận chuyên hàng hóa, sông Phó Đáy còn cung cấp nước cho lúa, hoa màu và những xã thuộc Bắc Tam Dương, các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên thông qua công trình thủy lợi Liễn Sơn. 15 Về giao thông, chạy qua đất Tam Dương có một số đường giao thông quan trọng, tạo thuận lợi cho Tam Dương phát triển kinh tế - xã hội. Đó là quốc lộ số 2 Hà Nội — Hà Giang, quốc lộ 2B lên khu nghỉ mát Tam Đảo, đường sắt Hà Nội — Lào Cai, quốc lộ 2C qua Tam Dương — Lập Thạch đi Tuyên Quang.
Ngoài ra còn hệ thống đường liên xã, đường liên huyện đã và đang được nâng cấp, tu bổ, ngày nay hầu hết đã được trải nhựa, bê tông hóa, đảm bảo giao thông thuận tiện phục vụ đời sống, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trên địa bàn huyện. Từ sau khi tái lập huyện đến nay, thực hiện đường lối đổi mới của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh, Tam Dương đã đạt những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế nông nghiệp của huyện đã có những bước chuyền biến quan trọng, phát triển khá toàn diện, nhất là lương thực. Kết quả nổi bật trong sản xuất nông nghiệp là đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư thâm canh, đây mạnh chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi.
Năng suất lúa bình quân đạt trên 50 tạ/ha. Dam bảo an ninh lương thực, bình quân đạt 400kg/ngườinăm. Giá trị sản pham trên đơn vi diện tích tăng từ 26,5 triệu đồng/ha/năm 2005 lên 57 triệu đồng/ha/năm 2010. Giá trị ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng từ 378.312 triệu đồng năm 2005 lên 1.
Về chăn nuôi: Ôn định đàn trâu, tăng đàn bò, đàn lợn, phát triển mạnh đàn gia cầm: Đàn trâu 3.800 con), dan lợn 80.400 con), đàn gia cầm trên 2 triệu con (tăng 1,3 triêu con), cơ cau đàn, chất lượng, số lượng ngày càng tăng , tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi trong lĩnh vực nông nghiệp đạt 61,3% tăng bình quân 11,1% năm. Về lâm nghiệp: Toàn huyện đã trồng mới được 12 ha rừng tập trung và gần 10 ha cây phân tán, bảo vệ trên 94 ha rừng. Tăng cường quản lý việc khai thác và vận chuyên lâm sản trên đìa bàn huyện. 16 Sản xuất công nghiệp và xây dung ở Tam Dương tiếp tục phát trién.
Cụm kinh tế - xã hội Hợp Thịnh 83 ha, đã có 56 dự án đầu tư vào sản xuất kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 2.472 tỷ đồng; khu công nghiệp Tam Dương I và II với tong diện tích 1.450 ha đã được Chính phủ phê duyệt. Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng bình quân đạt 29,4%/năm. Giá trị sản xuất tăng nhanh, từ 230.994 triệu đồng năm 2005, tăng lên 1. Các lĩnh vực Tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống cũng khá phát triển.
Khai thác khoáng sản, chế biến lương thực tăng 17,8 lần, sản xuất trang phục tăng 3,4 lần, chế biến tre, gỗ tăng 11,9 lần, sản xuất kim loại tăng 5,6 lần. Các hoạt dộng thương mại, dịch vụ của huyện có nhiều chuyển biến tích cực, hàng hóa phong phú đáp ứng nhu cau sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Doanh thu thương mại — dịch vụ hàng năm đều tăng. Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính đều có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên.