Chương 1: CHU TRƯƠNG VA SỰ CHỈ DAO CUA DANG BO THÀNH PHO HA NOI VE GIAO DỤC TIỂU HỌC TỪ NAM 2008 DEN NAM 2010 1. Chủ trương về giáo duc tiểu học của Dang va các yếu tổ tác động đến sự phát triển giáo dục tiểu học của Đảng bộ thành phố Hà Nội 1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục tiểu học Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dé cao vai trò của giáo dục phô thông nói chung và giáo dục tiêu học nói riêng, đây là một trong những nội dung quan trọng trong văn kiện của các kỳ đại hội Đảng. Ngày 28-12-2000, Bộ Chính trị ra Chi thị số 61-CT/TW “Về việc phổ cập trung học cơ sở” yêu cầu các cấp uy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến địa phương phải: Nhanh chóng xây dựng và thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trung học cơ sở gắn với việc đôi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ, với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, toàn cầu hoá, đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngày 25/12/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 201/2001/QD-TT phê duyệt Chiến lược phát triển giáo duc và đào tạo 2001 — 2010. Những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong 10 năm đã được chỉ ro là: Giáo dục là quốc sách hàng đầu: Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực quan trọng thúc đây sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là yếu tố cơ ban dé phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh: Đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.
Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân: xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; đây mạnh xã hội hóa; khuyến khích huy động và tạo điều kiện dé toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 khóa XI (7-2002) đã đưa ra kết luận số 14-KL/TW ngày 26/7/2002 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, phương hướng phát triển giáo dục đào tạo từ 2002- 2005 và đến năm 2010.“Nhưng riêng về giáo dục phổ thông kết luận số 14 KL/TW sau khi khang định lại những thành tựu cua 5 năm thực hiện NQTW2 khóa VIII đã đề ra, những nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân và nòng cốt là đội ngũ giáo viên cán bộ giáo dục cần tập trung như: Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiện công bang xã hội trong giáo dục”[25.
Dé thực hiện các nhiệm vụ trên cân cap toc đôi mới mạnh mẽ quan ly nhà nước vé giao dục, tiêp tục hoàn thiện cơ câu hệ thông giáo dục quôc dân và sắp xêp, củng cô, phát triên hệ thông trường lớp, cơ sở giáo dục, đây mạnh xã hội hóa giáo duc, coi giáo dục như là sự nghiệp của toàn dan Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 được xác định là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện thé chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gan với phát triển kinh tế tri thức, giai đoạn có ý nghĩa quyết định với việc hoàn ¿hành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm dau thé kỷ XXI mà Đại hội IX đã đề ra. Tiếp đó, đại hội Dai biểu toàn quốc lần thứ X (2006) tiếp tục khang định GD&DT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đây công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đảng lần thứ X nhắn mạnh: “Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học”, để làm tròn trách nhiệm của mình, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục phải được đào tạo và rèn luyện về mặt chuyên môn, nghiệp vụ, tu dưỡng về dao đức, pham chất của người cách mạng, người giáo viên. Vì vậy, trong Chiến lược phat trién giáo duc 2001 — 2010, một trong những mục tiêu của giáo dục là “Xây dựng nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [53, tr.
Quan điểm của Đảng về GD&DT giai đoạntừ năm 2005 đến năm 2010 được thé hiện như sau: Đồi mới toàn diện GD&DT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nên giáo dục Việt Nam. Chuyên dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thong hoc tap suốt đời, dao tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây 10 dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công băng trong giáo dục. “Phát triển giáo duc mầm non và giáo dục phố thông; khan trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông có tính khoa học, đại chúng và phổ cập, phù hợp tâm lí lứa tuổi và điều kiện cụ thé của Việt Nam; kết hợp việc tô chức phân ban với tự chon ởtrung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp va phân ludng từtrung học cơ sở.
Bao đảm tiến độ và chất lượng phổ cập giáo dục” [36; tr. Đối với đội ngũ giáo viên cần bảo đảm đủ số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học; hoàn thiện hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục. Cải tiến nội dung và phương pháp thi cử nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu kiến thức, khả năng học tập; khắc phục những mặt yếu kém và tiêu cực trong giáo dục. Trong chiến lược kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 — 2010, mục tiêu GDTH đã được đặt ra.Đối với GDTH thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ.
Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống, có tính hướng nghiệp, tiếp cận trình độ phát triển khu vực, xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiên thức vào cuộc sông. Tình hình giáo duc tiểu học của Thành phố Hà Nội trước năm 2008 = Vòi nét về dia ly, diện tích tự nhiên, dân cu của thành pho Ha Nội Hà Nội- Thu đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm về chính trị, văn hoá và khoa học kĩ thuật, đồng thời là trung tâm lớn vê giao dịch kinh tê và quôc tê của cả nước.000 năm hình 11 thành và phát triển, ké từ khi vua Lý Thái Tổ chọn khu đất Đại La bên cửa sông Tô Lịch làm nơi định đô cho muôn đời. Hà Nội đã chứng kiến sự thăng trầm của hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lý- Trần - Lê - Mạc - Nguyễn. kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miên Bắc.
VỊ trí địa lí Tọa độ địa lí: Hà Nội hiện nay có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên - Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam - Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang- Bắc Ninh- Hưng Yên ở phía Đông va Hòa Binh- Phú Thọ ở phía Tây. Diện tích tự nhiên Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ hop thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 05 năm 2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô bao gồm: thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình. Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn. Dân cư Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số toàn Hà Nội là 6.909 người, dân số trung bình năm 2010 là 6.
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, dân số Hà Nội là 7. Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1. Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 ngudi/km?, trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vi, Mỹ Duc, Ứng Hòa mật độ dưới 1. " Tình hình giáo dục tiểu học của Thành pho Ha Nội trước năm 2008 Những thành tựu Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của học sinh.
Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2008, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học tăng nhanh, trong đó mẫu giáo 5 tuổi đạt trên 97% và tiêu học là trên 98%.