Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN 2005 1. Sự nghiệp giáo dục phổ thông ở huyện Cẩm Khê trong mười năm đầu của sự nghiệp đổi mới (1986-1996) và chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông (1997-2005) 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục phổ thông ở Cẩm Khê trong mười năm đầu sự nghiệp đổi mới giáo dục (1986-1996) Địa giới hành chính Ngược dòng thời gian, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, địa giới và tên gọi của huyện Cẩm Khê đã có nhiều lần thay đổi. Vào thời đại Hùng Vương, Cẩm Khê thuộc Bộ Văn Lang - bộ lớn nhất của nhà nước Văn Lang cổ đại.
Theo Đại Nam nhất thống trí, vào đời nhà Hán, vùng đất này thuộc quận Giao Chỉ với tên gọi là Hồi Hồ, đến thời thuộc Minh, được gọi là Ma Khê - châu Thao Giang, phủ Tam Giang; đến đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) đổi là Hoa Khê, phủ Thao Giang, sau thuộc phủ Lâm Thao, trấn Sơn Tây. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) nhà Nguyễn đổi lại là huyện Cẩm Khê. Tháng 4-1886, toàn quyền Đông Dương Paul bert ra nghị định cắt huyện Cẩm Khê từ tỉnh Sơn Tây chuyển về tỉnh Hưng Hóa, lệ vào phủ Điện Biên. Tiếp đó đến ngày 9-9-1891, huyện Cẩm Khê tách khỏi phủ Điện Biên để nhập vào tiểu khu quân sự Yên Bái và từ 9-12-1892 trở về tỉnh Hưng Hóa.
Năm 1903, tỉnh lỵ Hưng Hóa (thuộc thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông), chuyển lên làng Phú Thọ và tên tỉnh gọi là Phú Thọ, từ đó huyện Cẩm Khê thuộc tỉnh Phú Thọ. Ngày 1 tháng 10 năm 1947, Hội đồng Chính phủ ra Sắc lệnh số 91/SL thành lập Khu 14 và quyết định 5 huyện hữu ngạn sông Thao gồm: Tam 8 z Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Yên Lập và Cẩm Khê sáp nhập vào Khu 14. Đến năm 1948, Chính phủ quyết định sáp nhập Khu 14 với Khu X thành Liên khu 10, huyện Cẩm Khê lại trở về Phú Thọ. Ngày 26-1-1968, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IV ra quyết định sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, Cẩm Khê thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Chính phủ ra Nghị định 178/CP thành lập huyện Sông Thao trên cơ sở sáp nhập các huyện Cẩm Khê, Yên Lập và 10 xã thuộc hữu ngạn sông Thao của huyện Hạ Hòa. Đến ngày 22-12- 1980, tách huyện Yên Lập và tháng 10-1995, 10 xã của huyện Hạ Hòa được tách khỏi huyện Sông Thao. Ngày 7-10-1995, thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 63 về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện của tỉnh Vĩnh Phú, trong đó có huyện Sông Thao. Theo Nghị định này, 10 xã vùng thượng huyện Sông Thao thuộc huyện Hạ Hòa cũ nay được tách trở về huyện Hạ Hòa mới tái lập.
Ngày 8-4-2002, Chính phủ ra Nghị định số 39-NĐ/CP về việc đổi tên huyện Sông Thao trở lại tên gọi là Cẩm Khê và giữ nguyên địa giới hành chính, với 30 xã và 1 thị trấn. Để đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử và chủ trương chung của Đảng và Chính phủ, sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 1-1-1997, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, tỉnh Phú Thọ được tái lập, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện trực thuộc, huyện Cẩm Khê từ đó đã thuộc tỉnh Phú Thọ. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Huyện Cẩm Khê thuộc phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp thị xã Phú Thọ và huyện Thanh Ba với ranh giới tự nhiên là dòng sông Thao; phía Tây giáp huyện Yên Lập; phía Nam giáp huyện Hạ Hòa; phía Bắc giáp huyện Tam Nông. Diện tích tự nhiên là 23.
9 z Theo các tài liệu về địa chất, thủy văn, Cẩm Khê thuộc vùng đất cổ trong phức hệ sông Hồng, có địa hình phức tạp thấp dần từ Tây sang Đông, bị chia cắt bởi các dãy núi và gò đồi, ở giữa là các khu đồng trũng tạo thành vùng lòng chảo và vùng bán sơn địa, vùng gò đồi chiêm trũng, có độ cao so với mực nước biển ở mức 9,7 - 15m. Chạy suốt chiều dài của huyện về phía Tây Nam có dải núi đồi thuộc đoạn cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, như một bức tường tạo thành ranh giới tự nhiên với huyện Yên Lập. Địa hình Cẩm Khê hình thành hai vùng lớn là vùng đồi núi chiếm 30% diện tích tự nhiên, vùng đồng bằng và vùng trũng chiếm 70% diện tích tự nhiên. Những yếu tố này đã tạo thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng đa canh gồm sản xuất, chăn nuôi, phát triển kinh tế đồi rừng.
Cẩm Khê nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình 84%, nhiệt độ trung bình từ 22,5 - 23,5°C. Tổng lượng mưa trung bình từ 1. Huyện Cẩm Khê có nguồn tài nguyên, lâm sản khá phong phú như: than nâu (Tiên Lương), sắt (Tam Sơn, Phượng Vỹ, Hương Lung…), quắc Zít, cao lanh, đất sét… Hệ thống sông ngòi của huyện cũng đa dạng: dòng sông Thao chảy dọc ranh giới phía Đông của huyện, có các sông ngòi nhỏ: sông Bứa, Ngòi Giành, Ngòi Cò, Ngòi Me và nhiều khe suối khác chảy ra sông Thao. Với vị trí chuyển tiếp giữa các huyện của tỉnh Phú Thọ, Cẩm Khê có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi.
Ngoài tuyến đường thủy trên sông Thao, huyện đã có hệ thống đường bộ ngang, dọc nối liền các xã trong và ngoài huyện. Giao thông đường sông, đường ôtô và đường sắt đều thuận tiện. Đường sông theo Sông Hồng, quốc lộ 32C bên hữu ngạn sông Hồng, đường sắt Hà Nội - Lào Cai bên tả ngạn sông Hồng đều nối liền Cẩm Khê với thủ đô Hà Nội và các địa phương trong vùng. Những năm gần đây, hệ thống 10 z đường giao thông Cẩm Khê đã đạt được nhiều thành tựu.
Nhiều tuyến đường liên xã đã được xây dựng mới. Hệ thống đường giao thông nông thôn đã và đang được bê tông hoá. Cẩm Khê có đường ô tô cao tốc Hà Nội - Lào Cai chạy qua đã mở ra bước đột phá mới tạo đà phát triển về kinh tế - xã hội. Đặc biệt, quốc lộ 32C chạy dọc suốt chiều dài phía Đông của huyện, tỉnh lộ 329 chạy dọc chiều dài phía Tây là những huyết mạch giao thông quan trọng đi Hà Nội, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình… Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay, huyện Cẩm Khê đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nông nghiệp, người nông dân đã chú trọng lựa chọn các loại giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng ở địa phương. Về trồng trọt, nhân dân chú trọng đa dạng hóa cây trồng, trồng chủ yếu các loại lúa: nếp cái hoa vàng, nếp cẩm, lúa sọc, lúa ngoi… Bên cạnh đó, họ cũng tận dụng các nương đồi, vùng bãi ven sông để trồng các loại rau màu, cây lương thực: ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ, lạc, … một số loại cây ăn quả: mít, nhãn, vải… và một số loại cây công nghiệp dài ngày như trẩu, sơn, dọc, chè, sở… Cùng với trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng được chú trọng phát triển. Với điều kiện nhiều đầm hồ, ao, nghề nuôi trồng thủy sản của huyện ngày càng phát triển mạnh với nhiều giống cá, tôm mới năng suất và chất lượng cao. Tính đến năm 2005, đề án nuôi trồng thủy sản được triển khai ở hầu khắp các xã, với 1.600ha mặt nước.
Kết hợp với sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển với các nghề thủ công truyền thống: nghề mộc, rèn, hàn, gốm sứ, đan lát, may thêu ren, sản xuất cơ khí, chế biến nông sản… Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã tăng từ 27. Các hoạt động thương mại, dịch vụ ngày càng phục vụ tốt hơn cho các hoạt động của đời sống xã hội. Hoạt động tín dụng, tài chính đáp ứng được 11 z yêu cầu cơ bản của sản xuất, các hoạt động chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện. Dân cư và truyền thống văn hóa Cẩm Khê là vùng đất mà người Việt cổ đã cư trú từ rất sớm.
Căn cứ vào phát hiện của khảo cổ học, trên địa bàn huyện Cẩm Khê có 6 địa điểm đó là những di chỉ văn hóa, nơi cư trú của con người thuộc nền văn hóa Sơn Vi, Phùng Nguyên. Theo các bản ngọc phả của một số dòng họ, từ khoảng thế kỷ X, đã có nhiều đợt di cư từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Đông, Sơn Tây… đến Cẩm Khê làm ăn, sinh sống. Cư dân Cẩm Khê ngày nay có nguồn gốc từ cư dân Văn Lang - những con người làm nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Trong quá trình phát triển của lịch sử, đã có nhiều cư dân từ nơi khác đến sinh cơ, lập nghiệp, từ đó quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các vùng miền đã tạo nên một vùng văn hóa phong phú đa dạng trên nền tảng văn hóa truyền thống Hùng Vương vẫn được bảo tồn và không ngừng phát triển.
Dân số Cẩm Khê tính đến năm 2010 là gần 13. Dân tộc Kinh là chủ yếu. Ngoài ra, có một bộ phận nhỏ là người Mường, Dao, Tày. chủ yếu là người nơi khác di cư hay lấy vợ (chồng) đến Cẩm Khê.
Cũng như các vùng quê khác trong cả nước, ở Cẩm Khê có phong tục thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng… Về tôn giáo, dân cư địa phương một bộ phận chịu ảnh hưởng của đạo Phật, một bộ phận theo Thiên Chúa giáo. Trong huyện có 18 nhà thờ và có số nhà thờ, giáo dân đông nhất tỉnh Phú Thọ. Bản chất hướng thiện của đạo Thiên Chúa cũng như đạo Phật đi vào lòng người một cách tự nhiên gắn liền với tín ngưỡng dân gian truyền thống và nhu cầu văn hóa tinh thần của đồng bào. Về lễ hội, đời sống tinh thần của nhân dân vô cùng phong phú với những làn điệu hát xoan, hát ví, những câu ca dao, hò vè ca ngợi quê hương, 12 z ca ngợi người lao động; những tiếng chống trèo và giọng hát ca trù trong các lễ hội, bên sân đình… Kết hợp với những làn điệu đó là những trò chơi dân gian vui nhộn: đấu vật, kéo co, rước đuốc, cờ tướng… Việc rèn luyện võ nghệ cũng là nét truyền thống của nhân dân nhiều địa phương trong huyện, điển hình là đất phát võ từ thời Hậu Lê của xã Phùng Xá.