phần mở đầu, kết luận khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên Chƣơng 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Cao đẳng nghề Phú Thọ. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Cao đẳng nghề Phú Thọ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Giáo dục là quá trình chuyển giao những kinh nghiệm lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác là quá trình truyền đạt những kiến thức khoa học, tri thức của xã hội cho những công dân của đất nƣớc. Công tác giáo dục và dạy học ở nƣớc ta đã đƣợc coi trọng từ những năm đầu của thế kỷ XI. Tuy nhiên phƣơng pháp dạy học xƣa phần nhiều chỉ là cách “nấu sử sôi kinh”. Bƣớc sang thời kỳ phát triển hiện đại các trình độ và các ngành học cũng đƣợc phân định rạch ròi hơn, giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp cũng có khoảng cách cụ thể, nếu giáo dục phổ thông là quá trình giới thiệu và khái quát để dần dần con ngƣời hình thành nhân cách, thì giáo dục chuyên nghiệp hình thành kỹ năng, kỹ xảo, xác định ngành nghề của mỗi công dân trong một xã hội nhất định để góp phần tạo ra sản phẩm duy trì sự sống và duy trì sự phát triển của toàn xã hội.
Vừa thoát khỏi cảnh đô hộ trầm luân trong đau khổ của hơn một trăm năm dƣới ách cai trị của chế độ thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi 3 thứ giặc xếp vào hàng nguy hiểm nhất của một dân tộc đó là: “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trong cuộc chiến tranh “trƣờng kỳ” với hàng trăm ngàn khó khăn, gian khổ phải đƣơng đầu với một đế quốc lớn có tiềm năng quân sự và kinh tế đứng đầu thế giới. Đảng, Bác Hồ và nhà nƣớc vẫn chủ trƣơng vừa chiến đấu vừa xây dựng để phát triển.
Thực hiện chính sách mở, Đảng và nhà nƣớc có chủ trƣơng xã hội hóa GD&ĐT, làm cho sự nghiệp giáo dục trở thành sự nghiệp chung của mọi ngƣời dân. Để chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu chiến lƣợc sáng tạo của Đảng là đi tắt đón đầu. Thực chất phát triển giáo dục nói chung và đào tạo ĐNGV của ngành giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề nói riêng là cách nâng cao ý thức của toàn xã hội đối với giáo dục huy động các lực lƣợng các nguồn lực của xã hội để phát triển quy mô và chất lƣợng giáo dục, đồng thời biến giáo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục thành quyền và nghĩa vụ của mọi ngƣời dân, thành phúc lợi của toàn dân, thành dịch vụ mỗi cá nhân có nhu cầu và điều kiện muốn học tập, phát triển. Đây cũng là cách để cho nền giáo dục nƣớc nhà có chất lƣợng cao, có khả năng đào tạo những ngƣời thực tài, có tầm mắt chiến lƣợc toàn cầu, có ý thức vƣơn lên hàng đầu, có năng lực sáng tạo cái mới và cạnh tranh quốc tế, có khả năng biến tri thức thành sản phẩm mang lợi ích kinh tế.
Xuất phát từ những nhận thức trên nên từ năm 1990 đến nay các chính sách của nhà nƣớc tập trung cho lĩnh vực GD&ĐT và phát triển GV. Sau đây là một số chính sách lớn: Ngày 24/11/1993 Chính phủ ban hành nghị định số 90/CP về đa dạng hóa các loại hình trƣờng lớp và hình thức đào tạo. Quyết định 255/CT của Chính phủ chuyển một số trƣờng trung học chuyên nghiệp và dạy nghề từ các bộ, tổng cục về trực thuộc các Tổng công ty. Quyết định số 2461 và 2463 của Bộ GD&ĐT ngày 07/11/1992 về xây dựng các TT giáo dục thƣờng xuyên ở tỉnh, thành phố, huyện, xã với mục đích tạo cơ hội cho mọi ngƣời.
Quyết định số 191/QĐ ngày 01/10/1986 của Tổng cục Dạy nghề và quyết định số 1317/QĐ ngày 19/06/1993 của Bộ GD&ĐT về phát triển mạng lƣới các TT dạy nghề tại các quận huyện. Ngày 11/12/1998 Chủ tịch nƣớc đã công bố lệnh ban hành Luật Giáo dục, Luật có hiệu lực ngày 01/01/1999. Sau 6 năm thi hành Luật Giáo dục ngày 27/06/2005 Chủ tịch nƣớc lại công bố lệnh ban hành Luật Giáo dục dựa trên cơ sở những nội dung của Luật ban hành năm 1998. Trong đó nhiều điều khoản đƣợc sửa đổi cho phù hợp với xu thế phát triển của đất nƣớc, khu vực và quốc tế.
Ngày 29/11/2006 Chủ tịch nƣớc cũng ban hành Luật Dạy nghề, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống dạy nghề nhằm phát triển sâu rộng lĩnh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vực này đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH của đất nƣớc trong giai đoạn mới. Tại chƣơng IV “nhà giáo” điều 70 Luật đã ghi “1. Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng cơ sở giáo dục khác”. Về chính sách điều 80 ghi “Bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Nhà nƣớc có chính sách bồi dƣỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuẩn hóa nhà giáo. Nhà giáo đƣợc cử đi học nâng cao trình độ, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ đƣợc hƣởng lƣơng và phụ cấp theo quy định của Chính phủ”. Điều 81 quy định về chế độ tiền lƣơng; điều 82 quy định thêm về chính sách đối với nhà giáo: Luật đã thể hiện cao nhất về việc phát triển không ngừng nghỉ về cả số lƣợng, chất lƣợng, kinh tế và chính sách cho mọi ngƣời làm công tác giáo dục và giảng dạy. Điều đó đã thể hiện tính ƣu việt của đƣờng lối lãnh đạo của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nƣớc danh cho ĐNGV và cán bộ GD&ĐT nói chung.
Những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề phát triển giáo viên dạy nghề. Đội ngũ giáo viên 1. Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi nhƣ: Đội ngũ tri thức, đội ngũ thanh niên xung phong, ĐNGV,… Các khái niệm đó đều xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là gồm nhiều ngƣời, tập hợp thành một lực lƣợng, hàng ngũ chỉnh tề. Tuy nhiên ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số đông ngƣời, hợp thành một lực lƣợng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhƣng có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, khái niệm về đội ngũ có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau, nhƣng đều thống nhất: Đó là một nhóm ngƣời, một tổ chức, tập hợp thành một lực lƣợng để thực hiện mục đích nhất định. Do đó, ngƣời nhà trƣờng phải xây dựng, gắn kết các thành viên tạo ra đội ngũ, trong đó, mỗi ngƣời có thể có phong cách riêng, nhƣng phải có sự thống nhất cao về mục tiêu cần đạt tới. Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 quy định rõ: “Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là GV; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [30, tr 109].
Do vậy GV đƣợc hiểu là “nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. GV trong các cơ sở giáo dục có nhiệm vụ, quyền lợi, vai trò và trách nhiệm đƣợc quy định tại Luật Giáo dục, điều lệ và quy chế trƣờng học”. Tại điều 15 Luật Giáo dục năm 2005 quy định vai trò và trách nhiệm của nhà giáo nhƣ sau: Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bào đảm chất lƣợng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gƣơng tốt cho ngƣời học.
Nhà giáo tổ chức đào tạo, bồi dƣỡng nhà giáo; chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để giáo dục thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học. Giáo viên dạy nghề. Là bộ phần cấu thành hữu cơ trong đội ngũ nhà giáo đƣợc quy định trong Luật Giáo dục 2005, công tác giáo dục nghề nghiệp có những tính chất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc thù do đó ĐNGV khác GV ở các trƣờng loại hình đào tạo khác nhƣ THPT, Cao đẳng, Đại học. Trong Điều 58 Luật Dạy nghề quy định: 1.
GV dạy nghề là ngƣời dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề. GV dạy nghề phải có những tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật Giáo dục. Phẩm chất, đạo đức, tƣ tƣởng tốt. Đạt trình độ chuẩn đƣợc đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. Lý lịch bản thân rõ ràng. Trình độ chuẩn của GV dạy nghề đƣợc quy định nhƣ sau: a. GV lý thuyết dạy trình độ SCN phải có bằng tốt nghiệp TCN trở lên, GV dạy thực hành nghề phải là ngƣời có bằng TCN trở lên, hoặc là ngƣời có bằng nghệ nhân hay có tay nghề cao.
GV dạy lý thuyết trình độ TCN phải có bằng tốt nghiệp Đại học sƣ phạm kỹ hoặc Đại học chuyên ngành; GV dạy thực hành nghề phải là ngƣời có bằng CĐN hoặc là nghệ nhân có tay nghề cao. GV dạy lý thuyết trình độ CĐN phải có bằng Đại học sƣ phạm kỹ hoặc Đại học chuyên ngành trở lên; GV dạy thực hành nghề phải là ngƣời có bằng CĐN hoặc là nghệ nhân có tay nghề cao. Trƣờng hợp GV dạy nghề quy định tại các điểm a, b và c của khoản này không có bằng tốt nghiệp Cao đẳng sƣ phạm kỹ thuật hoặc Đại học sƣ phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo Sƣ phạm. Tại điều 59 qui định nhiệm vụ và quyền của GV dạy nghề: 1.
GV dạy nghề có các nhiệm vụ quy định tại Điều 72 của Luật Giáo dục. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. GV dạy nghề có các quyền quy định tại điều 73 của Luật Giáo dục và có các quyền sau: a. Đƣợc đi thực tế sản xuất, tiếp cận với công nghệ mới; b.