CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia luôn coi trọng việc phát triển giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại hoá. Bởi lẽ một nền giáo dục tốt sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế của quốc gia.
Trong báo cáo phát triển con người của UNDP năm 2002 cho thấy phần lớn các nước có chỉ số HDI cao (chỉ số phát triển con người) là các nước có hệ thống giáo dục tốt, như các nước Na Uy, Oxtraylia, Canada, Thuỵ Điển, Hà Lan hoặc các nước có trình độ phát triển nhanh ở khu vực châu Á như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia… Tổng thống Mỹ đã đưa ra chương trình hành động để phát triển giáo dục đó là: để có những trường tốt nhất, phải có những giáo viên tốt. Nhật Bản nước có nền kinh tế phát triển và đội ngũ tri thức đông đảo, từ thời Minh Trị đến nay đã nhất quán về chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của giáo viên. Nhật Bản vốn chịu ảnh hưởng của lễ giáo phương Đông, với truyền thống tôn sư trọng đạo, đội ngũ giáo viên được ưu đãi về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ. Chính sự quan tâm này đã góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đủ sức thực hiện tốt chính sách phát triển giáo dục qua các thời kỳ.
Trong lịch sử phát triển giáo dục của các nước, nhất là các nước có nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển đều phải có một nền giáo dục tốt. Trong đó vai trò của đội ngũ giáo viên mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nền giáo dục đó. Vì vậy, đội ngũ giáo viên luôn được lựa chọn, đào tạo khoa học, bài bản cùng với chính sách đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần đối với những cống hiến của cho nền giáo dục. 5 Lịch sử hình thành đội ngũ nhà giáo gắn liền với lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam.
Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, nước ta đã có một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học và cùng với những thành tựu ấy, chúng ta đã có một đội ngũ nhà giáo hùng hậu với hơn một triệu người. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “không có thầy giáo thì không có giáo dục”, “các thầy, cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, nhà nước cần chăm lo đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Thế kỷ XXI, với những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm cho nền kinh tế thế giới thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt.
Đây là bước ngoặt lịch sử trong việc chuyển từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên sang nền kinh tế tri thức dựa vào trí tuệ con người. Tri thức đã trở thành nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, do đó việc nghiên cứu phát triển nguồn lực con người đã được các chính phủ và các nhà khoa học quan tâm. Với xu thế chung của thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ vai trò to lớn của giáo dục, đã tăng cường đầu tư phát triển giáo dục. Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo được thể hiện rất rõ ràng trong các luận điểm sau đây: - GD & ĐT là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa, xã hội.
GD & ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, thực hiện chủ trương xã hội hóa để phát triển giáo dục. - Phát triển GD & ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Mục tiêu giáo dục là hình thành lớp người mới có đủ phẩm chất và năng lực để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 6 - Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi, trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.124) - Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng đã nhấn mạnh “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết số 14/2005/NQ – CP ngày 2/11/2005 của chính phủ đã nêu:“Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng giảng viên và cán bộ quản lý; xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục Đại học. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, tầm nhìn chiến lược, nâng cao sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế hợp đồng dài hạn, bảo đảm sự bình đẳng giảng viên biên chế hợp đồng, giữa giảng viên ở cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục ngoài công lập. Xây dựng và ban hành chính sách đổi mới đối với giảng viên bao gồm tiêu chuẩn giảng viên, định mức lao động, điều kiện làm việc, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chế độ nghỉ dạy dài hạn để trao đổi học thuật và cơ chế đánh giá khách quan kết quả công việc. Ban hành chính sách, chế độ kiêm nhiệm giảng dạy.
Đổi mới quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo hướng giao cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn và điều kiện chung do Nhà nước quy định. Định kì đánh giá để bổ nhiệm lại 7 hoặc miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Cải cách thủ tục hành chính xét công nhận giảng viên, giảng viên chính”[10] Trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về giáo viên, tiêu biểu là của các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sĩ Hồ, Trần Bá Hoành, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hoàn … về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ đặc điểm lao động sư phạm, theo ông chất lượng giáo viên bao gồm hai yếu tố cấu thành đó là phẩm chất và năng lực sư phạm.
Phẩm chất giáo viên đựơc thể hiện ở thế giới quan, lòng yêu nghề, yêu trẻ, đạo đức và tính gương mẫu. Năng lực sư phạm của giáo viên thể hiện ở sự nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý các lứa tuổi học sinh, năng lực thiết kế và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục, năng lực đánh giá học sinh, năng lực giải quyết các tình huống nảy sinh trong hoạt động giáo dục. Bốn yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên là: đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và năng lực tự học của chính giáo viên. Trong bài viết “Nghề và nghiệp của người giáo viên” tác giả Trần Bá Hoành nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm” coi đó là cái tạo nên động cơ, thôi thúc người giáo viên sáng tạo và không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ của mình.
Từ đó tác giả đề nghị cần phải quản lý xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” ở đó giáo viên sẻ chia “bí quyết nhà nghề” để lao động sáng tạo và có hiệu quả. Trong bài “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” tác giả Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD. Tác giả đã đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích qua 2 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập tới những chính sách quản lý cải thiện và duy trì chất lượng giáo viên 8 ở cấp độ vĩ mô và vi mô; từ đó tác giả nhấn mạnh đến ba vấn đề quyết định đến chất lượng giáo viên là: Bản thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách giáo dục.
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được Nhà nước coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển giáo dục - đào tạo. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 - 2020 đã xác định phải “phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn chất lượng”. Hiện nay trong các trường đại học sư phạm và đại học giáo dục có nhiều luận văn tốt nghiệp cao học về lĩnh vực quản lý phát triển đội ngũ giáo viên. Các công trình tập trung vào các bậc học phổ thông, các trường đại học, cao đẳng và khối trung học chuyên nghiệp dưới góc độ quy hoạch phát triển ở các địa phương, vùng, miền và lãnh thổ.
Ta có thể kể đến công trình về quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non và phổ thông của các tác giả: Nguyễn Thị Yến (2008) “Dự báo, quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo của huyện Nho Quan, Ninh Bình đến năm 2015”. “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010” của tác giả Vũ Hồng Hiên. “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Hoàng Ngọc Dũng.