Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm gần đây các quốc gia trên thế giới đã đẩy mạnh công tác đào tạo nghề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bởi đây chính là nguồn lực trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Do đó, để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo nghề thì công tác phát triển ĐNGV dạy nghề cần phải được chú trọng. - Phát triển đội ngũ GVDN ở Mỹ Vào những năm đầu thập kỷ 90, những nhà cải cách giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp Mỹ khẳng định rằng để nâng cao chất lượng đào tạo cần phát triển ĐNGV. Trong đó, nâng cao năng lực giáo viên là yếu tố rất quan trọng và khởi đầu từ việc nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng giáo viên trong các trường sư phạm.
Những khoá đào tạo giáo viên đã nâng cao tiêu chuẩn chọn lựa sinh viên đầu vào và yêu cầu cao về chất lượng ở đầu ra. Những khoá đào tạo này cũng chú ý nhiều đến phương pháp sư phạm, thực tế giảng dạy, những kinh nghiệm thực tế. Công trình nghiên cứu của nhóm công tác “Giáo dục là một ngành chuyên trách” của diễn đàn giáo dục và kinh tế Carnergie (Mỹ) đã đề xuất việc “Chính phủ chuẩn bị cho việc đào tạo giáo viên thế kỷ XXI”. Trong đo, có các nội dung cơ bản liên quan đến ĐNGV là: - Khái quát về thời đại của sự biến động, những thử thách và thời cơ đối với người giáo viên.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhà trường của thế kỷ XXI với các nội dung: + Ý tưởng mới + Mục tiêu dạy học chuyên nghiệp + Các tiêu chuẩn mới về dạy học chất lượng cao + Cải cách cơ cấu giáo dục sư phạm + Giáo viên dân tộc ít người + Khuyến khích, thành tích và hiệu ích kinh tế + Tiền lương và phúc lợi giáo viên - Phát triển đội ngũ GVDN ở CHLB Đức CHLB Đức là một trong số ít nước có truyền thống và nhiều kinh nghiệm trong việc đào tạo bồi dưỡng ĐNGV nói chung và giáo viên kỹ thuật nói riêng một cách bài bản với chất lượng cao. Công tác phát triển ĐNGV dạy nghề ở CHLB Đức rất được chú trọng. Đây là một trong các yếu tố đảm bảo cho mô hình đào tạo nghề kép được thành công. Việc đào tạo giáo viên kỹ thuật cho các trường dạy nghề ở CHLB Đức theo một mô hình thống nhất.
Toàn bộ giáo viên dạy lý thuyết nghề đều được đào tạo ở trình độ đại học theo qui chế đào tạo và thi lấy bằng giáo viên dạy nghề quốc gia. Thời gian đào tạo ở trường đại học là 4,5 năm. Sau kỳ thi quốc gia lần 1, giáo sinh phải đi tập sự 2 năm ở một cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Khi kết thúc hai năm tập sự, giáo sinh phải thi quốc gia lần 2 mới được công nhận danh hiệu giáo viên dạy nghề ở trình độ đại học.
- Phát triển đội ngũ giáo viên ở Phần Lan Vào đầu những năm 1970, Phần Lan có một hệ thống giáo dục bị xuống cấp trầm trọng và một nền kinh tế lâm nghiệp dựa vào một sản phẩm duy nhất đó là gỗ, và họ cứ thế chặt cây xuống với một tốc độ chóng mặt. Lúc đó họ nhận ra rằng chặt gỗ chẳng thể đưa họ đi tới đâu nên họ đã quyết định thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục của mình nhằm tạo ra một nền kinh tế tri thức thực sự. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bắt đầu từ những năm 1970, người Phần Lan đã tiến hành đổi mới việc tuyển chọn và đào tạo những giáo viên tương lai của họ. Đây là một bước căn bản trong quá trình cải cách giáo dục bởi vì nó đã cho phép họ có được mức độ chuyên nghiệp cao hơn giữa các giáo viên.
Tất cả giáo viên đều phải có bằng thạc sĩ và tất cả phải được đào tạo trong cùng một chương trình đào tạo chất lượng cao. Và cũng kể từ đó, dạy học trở thành một nghề được tôn trọng nhất trong xã hội – không được trả lương cao nhất nhưng cao quý nhất. Kết quả Chương trình quốc tế đánh giá học sinh (PISA) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) khởi xướng, Phần Lan đã liên tục xếp trên tất cả các nước phương Tây. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu phục vụ đào tạo nguồn nhân lực ở các nước phát triển đều thể hiện quan điểm: - Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế.
- Đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam Gắn với lịch sử lâu đời, qua từng giai đoạn phát triển của dạy nghề Việt Nam, ngay từ khi chỉ mới hình thành tổ chức đào tạo chính quy tại một số trường nghề như Trường Kỹ nghệ thực hành Huế (1889), Trường Bách nghệ Sài Gòn (1890), Trường Kỹ nghệ thực hành Hà Nội (1898), đến khi Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật được thành lập (1969) cho đến nay giáo viên, giảng viên dạy nghề đã phát triển và phát huy được vai trò trong việc bảo đảm chất lượng dạy nghề. Trong những năm gần đây đã có môt số đề tài nghiên cứu về lý luận, thực tiễn và các biện pháp về phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập ở các mức độ và khía cạnh khác nhau ở cấp vĩ mô cũng như vi mô.Ví dụ: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005 - 2010"; - Đề án đổi mới phát triển dạy nghề giai đoạn 2008 -2015 của Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội; - Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 của Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội; - Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQuản lýgiáo dục giai đoạn 2005-2010“: Nhằm triển khai thực hiện chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư TW Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQuản lýgiáo dục. - Năm 2008 với đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề Trường Cao Đẳng nghề Cần thơ đến năm 2010", Nguyễn Thị Mỹ Loan đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục; - Năm 2008 với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về “Các biện pháp đổi mới quản lý quá trình đào tạo giáo viên dạy nghề tại Trường đại học sư phạm kỹ thuật Nam Định"; Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề như: - Biện pháp xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đến 2015 (PGS-TS Cao Văn Sâm; Phó tổng cục trưởng – Tổng cục dạy nghề).
- Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề góp phần đổi mới căn bản, toàn diện nền GDVN (Thạc sĩ Phạm Xuân Thu; Phó viện trưởng – Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề). - Như vậy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề. Tuy nhiên chưa có đề tài nào đề cập đến phát triển đội ngũ giảng viên của trường CĐN Công nghiệp Hà Nội. Trong khi đó, như phần đầu tác giả trình bày, vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề đã trở thành vấn đề cực kỳ cấp bách do vậy tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội” 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu. Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan.
Trải qua hàng vạn năm và trải qua các thời kỳ phát triển lịch sử của xã hội loài người,“quản lýđã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm nên một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung.8] Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lýn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó.Mác đã viết: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng "[28, tr. Vậy quản lý là gì? Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. - Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người.
- Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. - Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) kể cả nguồn nhân lực, để đạt đến những kỳ vọng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý là sự tác động của con người (cơ quan quản lý) đối với con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động bình thường có hiệu lực giải quyết được các nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhiệm vụ nhất định. - Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý.