CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, những con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn, có kỹ năng tiếp cận, vận hành, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trên thế giới và trong khu vực, nhiều nước coi giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội và sự hưng thịnh của đất nước. Những thập niên cuối thế kỷ XX đã có những cải tổ giáo dục và đào tạo, về chương trình, nội dung giảng dạy, phương thức đào tạo và cả về số lượng lẫn chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, ngành giáo dục cần phát triển mạnh mẽ phục vụ đắc lực mục tiêu đó. Trong đó, phát triển đội ngũ giáo viên được xem là khâu then chốt trong phát triển giáo dục đào tạo hiện nay, bởi "Giáo viên giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục". Vì vậy, nghiên cứu về xây dựng đội ngũ giảng viên đã có nhiều công trình của tập thể, cá nhân cán bộ khoa học nghiên cứu, đề cập đến.
Bàn về vai trò, tiêu chuẩn người giảng viên, công trình "Lý luận dạy đại học" của Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức cho rằng: “Đối với người cán bộ giảng dạy đại học, nâng cao năng lực chuyên môn, nghệ thuật sư phạm và phẩm chất đạo đức là điều kiện chủ yếu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để tạo nên uy tín của người thầy” [26, tr. Tuy chưa đề cập sâu, cụ thể vể năng lực chuyên môn, nghệ thuật sư phạm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ nhà giáo, nhưng những khái quát của các tác giả đã gợi nên định hướng cho việc xác định tiêu chuẩn và chuẩn hoá đội ngũ giảng viên. Ngoài ra, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về chiến lược phát triển giáo dục, đổi mới chương trình, mục tiêu, phương pháp giảng dạy, phát triển nguồn nhân lực như: Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Trần Khánh Đức, Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI.
Đặng Quốc Bảo (2010), Phát triển nguồn nhân lực và chỉ số phát triển con người, Giáo trình dành cho học viên cao học quản lý giáo dục. Ngoài ra còn một số luận văn thạc sĩ tập trung nghiên cứu về đội ngũ giảng viên ở từng cấp học, bậc học như: Hoàng Ngọc Long, luận văn cao học quản lý giáo dục: Nghiên cứu một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trường Văn hoá 1- Bộ Công an. Trịnh Xuân Ninh, Một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Biên phòng. Trong các công trình trên, nhìn chung các tác giả đã đề cập đến việc xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên dưới nhiều góc độ của các cấp học, ngành học khác nhau như: - Lấy phát triển bền vững con người là tư tưởng trung tâm.
- Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình (có sự hợp tác, có kỹ năng lao động). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lấy lợi ích người lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động (trong sự hài hoà với lợi ích của cộng đồng, xã hội). - Bảo đảm môi trường dân chủ thuận lợi cho tiến trình giao lưu đồng thuận. - Có các chính sách phát huy tiềm năng của người lao động, đảm bảo hiệu quả công việc.
- Phát triển nguồn nhân lực bám sát yêu cầu của thị trường lao động quản lý giáo dục. Về cơ bản các công trình đã làm rõ được nhiều vấn đề liên quan đến quản lý, phát triển đội ngũ nhà giáo dưới các góc độ, chuyên ngành khác nhau nhưng cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đầy đủ, hệ thống về phát triển đội ngũ giảng viên Trung tâm GDQP Hà Nội I. Song đây thực sự là những tài liệu quý, bổ ích, tạo thuật lợi cho tác giả trong nghiên cứu đề tài này. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Xã hội loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau và đồng thời cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử.
Ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan niệm về quản lý khác nhau. - Theo từ điển Tiếng Việt: Quản lý mang ý nghĩa của động từ: + Quản là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. + Lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định [42, tr. - Dưới góc độ khoa học khác nhau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu đề ra.
+ Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederic Wiliam Taylor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [30, tr. + Nhà toán học A. Kolmogorov cho rằng: “Quản lý là quá trình gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống [38, tr. + Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, hai tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” cho rằng: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức.
+ Trong Giáo dục học, Hà Thế Ngữ đã viết: “Thành công của cải cách giáo dục ở nước ta sẽ tùy thuộc phần lớn vào những cố gắng củng cố tổ chức và cải tiến quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân” [31, tr. Để đơn giản hoá người ta hiểu quản lý là cai trị một bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy và đồng thời tìm kiếm biện pháp tác động vào bộ máy để đạt tới mục tiêu. Bản chất của quản lý là cai trị, bên cạnh thuyết phục là cưỡng chế. + Theo Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường [38, tr.
Hoạt động quản lý bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người. Đồng thời khái niệm “quản lý" cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác cũng phải xây dựng theo những quy tắc khái niệm. Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên, ta nhận thấy hầu như các quan điểm đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người.
Có định nghĩa chưa nêu được khuynh hướng vận động của đối tượng quản lý theo mục đích hoạt động của con người. Các cách lý giải quan điểm về quản lý tuy có những khía cạnh khác nhau, nhưng về bản chất và nội dung đều thống nhất: Quản lý là lao động điều khiển lao động, về bản chất nó là quá trình điều chỉnh mọi quá trình xã hội về tư tưởng văn hoá, kinh tế chính trị, giáo dục, pháp luật…, quản lý giữ vai trò quan trọng trong sự tiến bộ xã hội. Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. - Quản lý giáo dục.
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy QLGD đến hình thức giáo dục và hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong đợi. Quan hệ cơ bản của hoạt động giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục. Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (đội ngũ giáo viên - học sinh), giữa người với việc (quá trình hoạt động giáo dục), giữa người với vật (cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục). Theo tác giả Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động’’ [27, tr.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [20, tr.