Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục đại học quân sự, đội ngũ nhà giáo giữ vị trí trung tâm, quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cán bộ chính trị cấp phân đội cho toàn quân. Tại thời điểm khảo sát tháng 10 năm 2013, Trường Đại học Chính trị trực thuộc Bộ Quốc phòng ghi nhận quy mô 298 giảng viên trên tổng số 322 chỉ tiêu biên chế quy định, đạt tỷ lệ 92,55% và còn thiếu hụt 7,45%. Sau khi được nâng cấp từ Trường Sĩ quan Chính trị theo Quyết định số 2344/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, Nhà trường đứng trước yêu cầu cấp bách phải đổi mới căn bản công tác quản trị nhân sự. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết sự mất cân đối về cơ cấu chuyên môn, độ tuổi, đồng thời nâng cao trình độ học vấn khi tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học mới đạt 36,91%.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung làm rõ hệ thống lý luận quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo đại học, khảo sát toàn diện thực trạng giai đoạn 2008 - 2013 và hoạch định hệ thống giải pháp chiến lược đến năm 2020. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác lập tại Trường Đại học Chính trị với các cứ liệu thực chứng thu thập liên tục từ năm 2009 đến năm 2013. Đề tài mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi xây dựng khung quản lý tích hợp giữa tiêu chuẩn sư phạm của Bộ Giáo dục và Đào tạo với tiêu chuẩn chức danh chỉ huy của Bộ Quốc phòng. Về mặt ứng dụng, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và bộ công cụ quản lý giúp chuẩn hóa 100% cán bộ, hướng tới mục tiêu đưa tỷ lệ giảng viên đạt trình độ sau đại học vượt mức 50% vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng thuyết quản lý hành chính của Henri Fayol với 5 chức năng cơ bản gồm dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra kết hợp cùng nguyên tắc quản lý khoa học của Frederick Winslow Taylor. Khung phân tích mở rộng dựa trên mô hình quản trị nguồn nhân lực của Muller và Piper, đặt sự phát triển cá nhân người dạy trong mối quan hệ tương hỗ với mục tiêu chiến lược của tổ chức. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm: quản lý phát triển đội ngũ giảng viên, chuẩn hóa chức danh giảng viên quân sự và môi trường sư phạm đặc thù. Quản lý phát triển được định nghĩa là hệ thống các tác động có chủ đích của chủ thể quản lý vào quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhằm tối ưu hóa năng lực đội ngũ.

Cơ sở pháp lý của đề tài bám sát Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư, Quyết định số 09/2005/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Giáo dục Đại học năm 2012. Bên cạnh đó, các quy định chuyên ngành quân sự như Điều lệ công tác Nhà trường Quân đội ban hành theo Quyết định số 965/2000/QĐ-BQP và Nghị quyết số 86/ĐUQSTW về công tác giáo dục đào tạo trong tình hình mới đóng vai trò định hình các tiêu chuẩn kép về chuyên môn học thuật và năng lực chỉ huy thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phân tích lý luận và điều tra thực chứng. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 200 học viên chính quy đang theo học và 150 giảng viên cùng cán bộ quản lý giáo dục thuộc 14 khoa chuyên ngành và các phòng ban chức năng. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên nhằm đảm bảo tính đại diện cho ba khối chuyên môn: Khoa học xã hội và nhân văn, Quân sự, Khoa học cơ bản. Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu nhóm chuyên gia gồm 10 nhà khoa học có học vị tiến sĩ, học hàm phó giáo sư chuyên ngành khoa học giáo dục trong quân đội.

Dữ liệu định lượng thu thập từ phiếu điều tra được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học, phân tích tỷ lệ phần trăm, kiểm định độ tin cậy và so sánh đối chéo. Phương pháp này được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc đo lường chính xác các chỉ báo về nhận thức, năng lực giảng dạy, phẩm chất đạo đức và mức độ đồng thuận đối với các giải pháp quản lý. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa, thu thập báo cáo tổng kết và xử lý dữ liệu được triển khai liên tục trong khung thời gian từ năm 2009 đến tháng 10 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và cơ cấu chuyên ngành có sự phân hóa rõ rệt giữa các khối. Trong tổng số 298 giảng viên năm 2013, nhóm Khoa học xã hội và nhân văn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 62,1% (185 người), nhóm Quân sự chiếm 29,19% (87 người), và nhóm Khoa học cơ bản chiếm 8,72% (26 người). Về trình độ học vấn, 100% giảng viên đạt chuẩn đại học trở lên, trong đó trình độ sau đại học đạt 36,91% (110 người), bao gồm 6,38% tiến sĩ (19 người) và 30,54% thạc sĩ (91 người). Toàn trường có 5 giảng viên đạt tiêu chuẩn chức danh Phó Giáo sư.

Thứ hai, cơ cấu tuổi đời và tuổi nghề bộc lộ sự mất cân đối thế hệ nghiêm trọng. Nhóm giảng viên trẻ có thâm niên nghề dưới 10 năm chiếm áp đảo với 62,4% (186 người), trong khi nhóm có thâm niên từ 10 đến 15 năm chỉ chiếm 9,1% (27 người) và nhóm từ 16 đến 20 năm chỉ đạt 8,1% (24 người). Về độ tuổi, giảng viên từ 30 tuổi trở xuống chiếm 28,2% (87 người), từ 31 đến 39 tuổi chiếm 29,9% (89 người), nhưng nhóm từ 50 tuổi trở lên chiếm tới 21,8% (65 người). Thực tế này tạo ra khoảng trống lớn về lực lượng chuyên gia đầu ngành có từ 10 đến 20 năm kinh nghiệm.

Thứ ba, chất lượng phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn duy trì ở mức cao. Kết quả khảo sát ghi nhận 82,5% học viên đánh giá giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, 92,5% khẳng định giảng viên mẫu mực về đạo đức lối sống. Trong công tác chuyên môn giai đoạn 2009 - 2013, toàn trường đạt 176 lượt giảng viên giỏi, tỷ lệ hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 67,8%, hoàn thành khá đạt 29,5% và trung bình chỉ chiếm 2,7%. Đội ngũ đã công bố 84 đề tài nghiên cứu khoa học, biên soạn 88 giáo trình, tài liệu và đăng tải 112 bài báo khoa học.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố nhân sự phản ánh tác động trực tiếp từ quá trình chuyển đổi mô hình đào tạo sau khi nâng cấp nhà trường. Khoảng trống 7,45% biên chế và sự hụt hẫng ở nhóm giảng viên trung cấp xuất phát từ việc nhiều cán bộ giàu kinh nghiệm được điều động lên các cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng, trong khi chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ quân sự hàng năm còn hạn chế. Hơn nữa, quy định trần tuổi phục vụ theo cấp bậc quân hàm khiến nhóm 21,8% giảng viên trên 50 tuổi chuẩn bị chuyển ra trong vòng 1 đến 5 năm, tạo áp lực thay thế khoảng 20 đến 25 cán bộ mỗi năm.

Dữ liệu nghiên cứu khi trực quan hóa qua biểu đồ phân bố tần suất thâm niên sẽ thể hiện rõ hình thái đáy võng ở giai đoạn 10 đến 20 năm nghề. Khi so sánh với các trường đại học công lập ngoài quân đội, tỷ lệ sau đại học 36,91% còn khiêm tốn, nhưng mức độ kỷ luật và tính chuẩn mực sư phạm vượt trội hơn hẳn với 97,6% cán bộ quản lý đánh giá cao tinh thần trách nhiệm. Việc thiếu hụt giảng viên có học hàm cao đòi hỏi nhà trường phải có chính sách đào tạo vượt cấp và quy hoạch tạo nguồn bài bản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể quản lý. Đảng ủy và Ban Giám hiệu cần cụ thể hóa các nghị quyết chuyên đề về xây dựng nhà giáo, phân định rõ quyền hạn giữa cơ quan quản trị nhân sự và 14 khoa chuyên ngành. Mục tiêu đặt ra là gia tăng 100% tỷ lệ cán bộ quản lý các cấp nắm vững quy trình phát triển nhân lực giáo dục trước năm 2015.

Thứ hai, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh cơ cấu nhân sự tổng thể. Chủ thể quản lý cần triển khai đồng bộ kế hoạch tuyển chọn, đào tạo dự khóa để đạt 100% biên chế (322 người) vào năm 2015 và xây dựng lực lượng dự bị đạt tỷ lệ 115% đến 120% vào năm 2020. Quy hoạch phải khắc phục triệt để tình trạng hẫng hụt thế hệ, bảo đảm tỷ lệ kế cận vững chắc cho các môn khoa học cơ bản và quân sự.

Thứ ba, chuẩn hóa chức danh và đẩy mạnh đào tạo sau đại học. Nhà trường cần giao chỉ tiêu cụ thể cho các khoa, phấn đấu nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học lên 50% vào năm 2015 và đạt trên 60% vào năm 2020. Trong đó, tỷ lệ tiến sĩ phải đạt từ 12% đến 15%, đồng thời bồi dưỡng ít nhất 8 đến 10 giảng viên đạt tiêu chuẩn Phó Giáo sư trong giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ tư, đổi mới công tác bồi dưỡng năng lực thực tiễn cho 62,4% giảng viên trẻ. Cơ quan đào tạo cần định kỳ luân chuyển giảng viên trẻ đi thực tế giữ các chức danh chỉ huy phân đội, trung đoàn và sư đoàn với thời gian tối thiểu 12 tháng. Giải pháp này giúp gắn kết kiến thức lý luận khoa học xã hội nhân văn với thực tiễn hoạt động quân sự tại đơn vị cơ sở.

Thứ năm, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và môi trường học thuật. Nhà trường cần đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, phòng học chuyên dùng, tăng 20% mức phụ cấp nghiên cứu khoa học và hoàn thành các dự án nhà ở công vụ trước năm 2018 nhằm tạo động lực cống hiến lâu dài cho đội ngũ cán bộ, giảng viên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm Ban Giám hiệu, cán bộ quản trị nhân sự và lãnh đạo các khoa giáo viên tại các học viện, trường sĩ quan thuộc Bộ Quốc phòng. Tài liệu cung cấp bộ giải pháp thực tế để giải quyết bài toán chuẩn hóa chức danh và quản lý định mức lao động sư phạm quân sự.

Nhóm thứ hai là các chuyên viên nghiên cứu chính sách tại Cục Nhà trường, Tổng cục Chính trị và cơ quan quản lý giáo dục thuộc các bộ, ngành. Báo cáo cung cấp các luận cứ khoa học để hoàn thiện quy chế tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ đối với giảng viên khối lực lượng vũ trang.

Nhóm thứ ba là học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục và Quản trị nhân lực công. Luận văn là một nghiên cứu tình huống điển hình về phương pháp khảo sát thực chứng, thiết kế bảng hỏi và phân tích ma trận cơ cấu nhân sự trong môi trường đặc thù.

Nhóm thứ tư là đội ngũ giảng viên trẻ đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học quân sự. Tài liệu giúp người dạy nhận diện rõ các tiêu chuẩn về năng lực sư phạm, lộ trình học tập sau đại học và định hướng rèn luyện kỹ năng chỉ huy thực tế để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa cán bộ.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đặc thù lớn nhất trong quản lý giảng viên tại Trường Đại học Chính trị là gì? Giảng viên tại trường vừa là nhà giáo đạt chuẩn học thuật của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vừa là sĩ quan quân đội giữ chức trách chỉ huy. Đội ngũ này có trên 90% là sĩ quan và đảng viên, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy gắn liền với chế độ sẵn sàng chiến đấu và rèn luyện kỷ luật quân đội nghiêm ngặt.

Sự mất cân đối về thâm niên nghề nghiệp của giảng viên thể hiện qua số liệu nào? Thực trạng cho thấy nhóm giảng viên trẻ dưới 10 năm thâm niên chiếm tới 62,4% (186 người), trong khi nhóm giàu kinh nghiệm từ 10 đến 20 năm chỉ chiếm 17,2% (51 người). Đồng thời, nhóm trên 50 tuổi chiếm 21,8%, tạo ra nguy cơ hẫng hụt lớn khi số cán bộ này đến tuổi nghỉ hưu.

Tỷ lệ trình độ sau đại học của trường tại thời điểm nghiên cứu đạt bao nhiêu? Tính đến tháng 10 năm 2013, tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học đạt 36,91% (110 người), trong đó tiến sĩ chiếm 6,38% (19 người), thạc sĩ chiếm 30,54% (91 người) và có 5 Phó Giáo sư. Khối Khoa học xã hội và nhân văn đạt tỷ lệ sau đại học cao nhất với 74,55%.

Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát với quy mô mẫu như thế nào? Luận văn tiến hành điều tra thực chứng trên mẫu gồm 200 học viên chính quy và 150 giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục thuộc 14 khoa chuyên môn. Nghiên cứu còn kết hợp phỏng vấn sâu 10 chuyên gia đầu ngành có học vị tiến sĩ và học hàm phó giáo sư trong quân đội.

Giải pháp nào đóng vai trò đột phá để chuẩn hóa đội ngũ giảng viên đến năm 2020? Giải pháp đột phá là đẩy mạnh đào tạo sau đại học gắn với luân chuyển thực tế chỉ huy tại đơn vị từ 12 tháng trở lên. Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ sau đại học lên trên 60%, tăng tỷ lệ tiến sĩ lên 12% đến 15% và đảm bảo biên chế đạt tỷ lệ dự phòng 115% đến 120%.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng 298 giảng viên Trường Đại học Chính trị, làm rõ tỷ lệ sau đại học đạt 36,91% và xác định tỷ lệ thiếu hụt biên chế là 7,45%.
  • Chỉ rõ nút thắt mất cân đối cơ cấu khi nhóm thâm niên dưới 10 năm chiếm 62,4% và nhóm trên 50 tuổi chiếm 21,8% tổng quy mô.
  • Thiết lập khung lý luận quản lý phát triển giảng viên tích hợp chuẩn mực sư phạm quốc gia với tiêu chuẩn cán bộ quân sự.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ bao gồm quy hoạch nhân sự, tiêu chuẩn hóa chức danh, bồi dưỡng thực tiễn và chính sách đãi ngộ.
  • Khảo nghiệm thực chứng xác nhận độ cần thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp với tỷ lệ đồng thuận cao từ đội ngũ cán bộ quản lý.

Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2014 - 2015 tập trung kiện toàn 100% biên chế và hoàn thiện các chương trình bồi dưỡng sư phạm; giai đoạn 2016 - 2020 bứt phá nâng tỷ lệ sau đại học vượt mức 60% và chuẩn hóa toàn diện chức danh cán bộ. Các nhà quản lý giáo dục đại học và chỉ huy các học viện, nhà trường quân đội cần chủ động tham khảo, vận dụng linh hoạt hệ thống giải pháp của luận văn vào thực tiễn quản trị đơn vị nhằm tạo bước chuyển biến căn bản về chất lượng giáo dục đào tạo.