Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH - Chương 2: Thực trạng ĐNGV và phát triển ĐNGV các trường ĐH ở vùng ĐBSCL - Chương 3: Giải pháp phát triển ĐNGV của các trường ĐH ở vùng ĐBSCL Phần kết luận và khuyến nghị Danh mục công trình khoa học đã công bố Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐNGV 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, các khái niệm “vốn con người” (Human capital) và “nguồn lực con người” (Human resources) xuất hiện ở Hoa Kì và sau đó thịnh hành trên thế giới (xuất hiện cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học người Mĩ - Theodor Schoultz, sau đó vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế người Mĩ nhận giải Nobel kinh tế 1992 Gary Backer (dẫn theo [4, tr.4]) vấn đề phát triển ĐNGV cũng được ông giải quyết với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, lĩnh vực.
Tuy nhiên, nội dung và cách thức giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi giai đoạn lịch sử. Từ năm 1980, nhà xã hội học người Mĩ, Leonard Nadle đã đưa ra sơ đồ quản lí nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí nguồn nhân lực. Ông cho rằng quản lí nguồn nhân lực phải có 3 nhiệm vụ chính (cùng các nhiệm vụ thành tố) là: i) Phát triển nguồn nhân lực (gồm GD&ĐT, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); ii) Sử dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức lao động); iii) Môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng qui mô làm việc, phát triển tổ chức) - (dẫn theo [23, tr. Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng.
Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước”[30, tr.257, tập 2] cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lí thuyết tổng thể về quản lí phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học.) để đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lí phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực (về 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sơ đồ quản lí nguồn nhân lực của Leonard Nadle và hướng tiếp cận của Christian Batal sẽ được chúng tôi trình bày kĩ hơn trong mục 1.Becker và Markv A.Huselid [22] cũng có sự khai thác tương tự, nhưng để phục vụ cho quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu về GV và ĐNGV Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lí phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây những nghiên cứu trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng GV; đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ. Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu cầu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết; các hình thức bồi dưỡng GV cũng trở nên đa dạng và phong phú; quan tâm cách thức bồi dưỡng theo mô đun; kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy trên lớp của GV và coi trọng cơ cấu quan hệ về chức danh giữa tỉ lệ giáo sư với trợ giảng và trợ lí (dẫn theo [112], [117], [119], [122], [125]).Beerens chủ trương tạo ra một “nền văn hoá” về sự thúc đẩy và học hỏi trong đội ngũ (Creating a Culture of Motivation and Learning), coi đó là giá trị mới của nhà giáo.Beerens cho rằng, tính động trong tăng trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí trung tâm của đội ngũ nhà giáo ngày nay [116].
NBPTS (Ủy ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo) được tạo nên từ năm 1987 sau Hội thảo Carnegie về nhà giáo cho thế kỷ 21. Sau một thời gian ngắn, NBPTS đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên: Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì? (What teachers Should Know and Be Able to do?) với 5 vấn đề cốt lõi được hòa trộn là kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin [40]. Một nghiên cứu tương tự trong công trình chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) đã chỉ ra chất lượng nhà giáo gồm 5 mặt: i) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; ii) Kĩ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về PPDH, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; iii) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; iv) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; v) Có 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học (dẫn theo [91, tr. Nhà giáo phải vừa là nhà chuyên môn, người lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động của lớp học và lãnh đạo chuyên môn) cũng được nhấn mạnh trong chuẩn nhà giáo của Australia (theo dự thảo khung về tiêu chuẩn nhà giáo 6/2003) [40], Nhật Bản [51], Hàn Quốc [47, tr.43-45] và nhiều nước khác.
Trong GDĐH, một cách tiếp cận tương tự: Giảng viên đại học = Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà quản lí + Nhà cung ứng xã hội, đã được đưa ra về quan niệm và yêu cầu phát triển GV trong bối cảnh hội nhập [40]. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Ở nước ta ngay từ các cuộc cải cách giáo dục 1950, 1956 đến thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã để lại những bài học quí báu về phát triển đội ngũ nhà giáo, như: “Nêu cao tinh thần dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt, luôn luôn tìm ra những giải pháp tình thế để thích ứng tình hình; coi trọng ĐT, BD thường xuyên và yêu cầu sự tự trau dồi của mỗi nhà giáo; biết dựa vào dân để phát triển đội ngũ nhà giáo”[2]. Trong lĩnh vực GDĐH những năm gần đây, nhiều giải pháp phát triển ĐNGV đã được nghiên cứu và áp dụng. Đặc biệt, từ khi tiến hành đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 14/NQ-CP của Chính phủ thì nhiều dự án và công trình khoa học liên quan đến ĐNGV đã được thực hiện.
Có thể kể đến các công trình và tác giả theo từng chủ đề nghiên cứu, như sau: 1. Nhóm công trình nghiên cứu dề cập về vai trò nguồn nhân lực: Quán triệt các Nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước, trong nhiều năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về quản lí phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta: [7], [31], [93], [97], [109]. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng điểm chung có thể rút ra là: khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển KT - XH; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung phát triển nguồn nhân lực và đề xuất sự vận dụng, với những giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát được những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ 21.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Liên quan đến đổi mới GDĐH và nâng cao chất lượng GDĐH, đã có những công trình nghiên cứu:: - Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT, do Uỷ ban Châu Âu tài trợ, chủ yếu đi sâu vào các qui trình quản lí nguồn nhân lực của ngành. Liên quan đến phát triển đội ngũ nhà giáo có các nội dung: xây dựng chương trình phần mềm tin học (PMIS và EMIS) nhằm nâng cao năng lực thống kê, quản lí nhân sự; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí; đánh giá tổng thể về thể chế tổ chức, các nội dung quản lí và tác động của nó lên hệ thống, từ đó đưa ra những nhận định chung, đề xuất các mục tiêu và hệ giải pháp chiến lược, chủ yếu áp dụng cho cấp Trung ương (cấp hoạch định chính sách). Một số phần mềm quản lí nhân sự từ Dự án này đã được áp dụng trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin cần thiết về đội ngũ, góp phần đắc lực cho các NCKH liên quan (Nguồn: Kế hoạch và tài liệu tổng kết dự án, Hà Nội, 12/2004).
- Tháng 7/2005, Bộ GD&ĐT công bố Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam; và ngày 02/11/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 14/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020; nội dung đề án có phần đánh giá khái quát tình hình GDĐH Việt Nam thời gian qua, đồng thời đưa ra quan điểm, mục tiêu, những giải pháp đổi mới GDĐH, trong đó có giải pháp đổi mới công tác qui hoạch, ĐT, BD và sử dụng GV.