Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Văn Đệ, được thực hiện và bảo vệ tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2010.

Về mặt lý luận, nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng, đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải tái cấu trúc nguồn lực nhằm nâng cao năng lực cốt lõi. Trong tiến trình quốc tế hóa giáo dục, chiều đo nội tại đòi hỏi đổi mới chương trình, phương pháp dạy học, hoạt động nghiên cứu và hợp tác; còn chiều đo bên ngoài gắn liền với sự dịch chuyển xuyên biên giới của bốn yếu tố: người học, nhà giáo, chương trình và cơ sở giáo dục. Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006, tính cạnh tranh trong đào tạo nhân lực càng trở nên rõ nét, xác lập yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên (ĐNGV) như một khâu then chốt nhằm nâng cao chất lượng toàn hệ thống.

Về mặt thực tiễn, luận án căn cứ vào các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Văn kiện này đặt ra mục tiêu xây dựng ĐNGV đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn cao và phong cách giảng dạy hiện đại, bảo đảm tỷ lệ sinh viên trên giảng viên (SV/GV) không quá 20; phấn đấu đến năm 2010 có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ, 25% đạt trình độ tiến sĩ, và đến năm 2020 đạt tương ứng 60% thạc sĩ, 35% tiến sĩ. Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), báo cáo tại Hội nghị sơ kết một năm thực hiện Quyết định 20/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tổ chức tại Cần Thơ vào tháng 01/2007 đã chỉ ra nhiều bất cập: tỷ lệ giảng viên có chức danh Giáo sư (GS), Phó Giáo sư (PGS) và học vị tiến sĩ quá thấp; năng lực ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh) hạn chế; tải trọng giảng dạy quá lớn làm cản trở nghiên cứu chuyên môn; giảng viên thiếu kỹ năng thực tiễn và năng lực cung ứng dịch vụ cho xã hội. Mặc dù toàn vùng có 11 trường đại học, nhưng có tới 7 trường mới được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ các trường cao đẳng, khiến khu vực này trở thành "vùng trũng" về năng lực giảng viên.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận quản lý ĐNGV và kết quả phân tích thực trạng ĐNGV các trường đại học ở vùng ĐBSCL, luận án đề xuất hệ thống giải pháp phù hợp và khả thi để phát triển ĐNGV của các trường đại học ở vùng ĐBSCL, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới giáo dục đại học.

Giả thuyết khoa học được văn bản xác định cụ thể: Trước nhu cầu phát triển về số lượng và chất lượng các trường đại học ở vùng ĐBSCL, nếu hoạt động phát triển ĐNGV trong khu vực được thực hiện theo cách tiếp cận của cơ chế mở, hoạt động theo mối quan hệ hợp tác và hỗ trợ theo mối quan hệ mạng; đồng thời, phát triển ĐNGV cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng phù hợp với hoàn cảnh vùng ĐBSCL, thì sẽ góp phần quan trọng khắc phục được tình trạng thiếu về số lượng, yếu về chất lượng của ĐNGV và từ đó đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục đại học.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm bốn nội dung cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về những yêu cầu đối với giảng viên, về phát triển ĐNGV trong thời kỳ mới, thời kỳ kinh tế tri thức và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học; đồng thời tổng quan vấn đề nghiên cứu ở trong nước, ngoài nước, và khái quát những bài học kinh nghiệm về phát triển ĐNGV ở các nước trên thế giới.
  2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về ĐNGV, về hoạt động phát triển ĐNGV và về ảnh hưởng của đội ngũ đó đến tình hình giáo dục đại học ở vùng ĐBSCL.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển ĐNGV của các trường đại học ở vùng ĐBSCL nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học.
  4. Khảo nghiệm tác dụng thực tiễn của hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án.

Khách thể nghiên cứu của luận án là hệ thống các trường đại học vùng ĐBSCL. Đối tượng nghiên cứu là ĐNGV các trường đại học ở vùng ĐBSCL xét về các mặt số lượng, trình độ, cơ cấu, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng. Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn trong 11 trường đại học ở vùng ĐBSCL (bao hàm cả những giảng viên tham gia đào tạo hệ cao đẳng trong các trường đại học của vùng). Phạm vi thời gian tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNGV và hoạt động phát triển ĐNGV chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2008.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu quốc tế cho thấy hướng nghiên cứu về nguồn nhân lực đã hình thành khái niệm "vốn con người" (Human capital) và "nguồn lực con người" (Human resources) từ cuối thập niên 1960 bởi Theodor Schultz, tiếp nối bằng các công trình của Gary Becker (giải Nobel kinh tế năm 1992). Năm 1980, Leonard Nadler công bố sơ đồ quản lý nguồn nhân lực gồm ba phân nhánh chính: phát triển nguồn nhân lực (giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển bền vững, nghiên cứu, phục vụ), sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động) và môi trường nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức). Lý thuyết này được Christian Batal khai thác trong tác phẩm "Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước", tích hợp giáo dục học, dự báo, nhân khẩu học và toán học. Brian E. Becker và Mark A. Huselid cũng áp dụng hướng tiếp cận tương tự trong quản trị nhân sự. Về nghiên cứu giảng viên, Beerens (2000) đề xuất mô hình tạo dựng nền văn hóa thúc đẩy và học hỏi trong đội ngũ; NBPTS (Ủy ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo Hoa Kỳ, thành lập năm 1987) ban hành văn bản xác lập năm nội dung cốt lõi về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin của người thầy. Báo cáo của OECD chỉ ra năm mặt chất lượng nhà giáo: kiến thức chương trình, kỹ năng sư phạm, tư duy phản ánh/tự phê, cảm thông tôn trọng phẩm giá và năng lực quản lý. Chuẩn nhà giáo tại Australia (2003), Nhật Bản và Hàn Quốc đều thống nhất quan điểm người giảng viên vừa là nhà chuyên môn vừa là nhà lãnh đạo lớp học.

Tại Việt Nam, các bài học phát triển nhà giáo được đúc kết từ các cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956 và hai cuộc kháng chiến. Nhóm công trình nghiên cứu nguồn nhân lực gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện bởi nhiều nhóm tác giả. Về giáo dục đại học, Dự án hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo do Ủy ban Châu Âu tài trợ đã xây dựng hệ thống phần mềm quản lý nhân sự PMIS và EMIS. Báo cáo đánh giá của VEF, kết quả kiểm định 20 trường đại học giai đoạn 2005 – 2007 (có sự tham gia của chuyên gia Hà Lan và Hoa Kỳ), đề tài trọng điểm cấp Bộ của Bùi Mạnh Nhị (2004 – 2006) và nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội phối hợp với Ngân hàng Thế giới đã phân tích năng lực hệ thống giáo dục đại học. Về phát triển ĐNGV, Bùi Văn Quân và Nguyễn Ngọc Cầu xác lập ba cách tiếp cận (theo sơ đồ nguồn nhân lực của Christian Batal, theo phương pháp quản lý, theo nội dung phát triển); Lê Đức Ngọc đề xuất thành lập trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ thuộc Hiệp hội các trường đại học; Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan nghiên cứu năm nội dung phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học; Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh và Đinh Thị Kim Thoa công bố cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất nhà giáo; Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục khảo sát triển khai Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư. Tại địa bàn cụ thể, Nguyễn Văn Hòa (2001) chủ nhiệm đề tài cấp Bộ B2001-ĐHH-01 đề xuất sáu nhóm giải pháp phát triển cán bộ, giảng viên cho Đại học Huế. Tại ĐBSCL, các bài viết của Trần Kim Dung, Võ Đăng Thiên và phóng viên Ban khoa giáo đã phản ánh thực trạng khó khăn của vùng; luận án tiến sĩ của Phạm Hữu Ngãi nghiên cứu mô hình trường cao đẳng cộng đồng.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các công trình trước đây chỉ đi sâu vào từng khía cạnh chuyên biệt hoặc gắn liền với từng cơ sở đào tạo đơn lẻ. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận tổng hợp sơ đồ quản lý nguồn nhân lực để xây dựng hệ thống giải pháp phát triển ĐNGV cho toàn vùng ĐBSCL theo mô hình liên kết mạng lưới giữa các trường đại học nhằm mở rộng biên độ và không gian hoạt động cho đội ngũ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản lý nguồn nhân lực và đặc thù quản lý giáo dục. Khung lý thuyết cốt lõi gồm:

  • Sơ đồ quản lý nguồn nhân lực của Leonard Nadler: Quản lý nguồn nhân lực là sự tích hợp đồng bộ giữa phát triển, sử dụng và môi trường nguồn nhân lực, tuân thủ bốn chức năng quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
  • Mô hình phân cấp quản lý của Christian Batal: Quá trình quản lý phát triển nhân lực được phân định thành ba cấp bậc: cấp chính sách (Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố), cấp kỹ thuật (các trường đại học) và cấp tác nghiệp (khoa, bộ môn).
  • Khái niệm công cụ: Giảng viên được xác định theo Điều 70 và Điều 77 Luật Giáo dục cùng Điều 46 Điều lệ trường đại học. Đội ngũ giảng viên được định nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao, có tính hệ thống, gắn kết bởi mục tiêu đào tạo, quy chế pháp lý và văn hóa sư phạm. Phát triển ĐNGV là quá trình quản lý nhằm chuẩn hóa, hiện đại hóa, bảo đảm chế độ chính sách, tạo môi trường thuận lợi, tổ chức giảng dạy hợp lý và dân chủ hóa hoạt động để tối ưu hóa hiệu suất làm việc.
  • Khái niệm mạng lưới liên kết ĐNGV: Dựa trên nguyên lý tương tác giữa các hệ thống con trong cùng một hệ thống mẹ của Nguyễn Cảnh Toàn, liên kết ĐNGV là sự thiết lập mối quan hệ đan xen, ảnh hưởng và cộng tác lẫn nhau giữa các trường đại học trong vùng nhằm tối ưu hóa việc sử dụng và bồi dưỡng giảng viên.
  • Mô hình cấu trúc nhân cách người giảng viên đại học: Được thiết lập gồm hai thành tố chính là phẩm chất (đạo đức chính trị, thái độ nghề nghiệp, say mê khoa học) và bốn nhóm năng lực: năng lực hành động, năng lực chủ thể hóa, năng lực xã hội hóa và năng lực giao tiếp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm sự phối hợp giữa các kỹ thuật định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các lý thuyết nhân sự, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 47/2001/QĐ-TTg, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP, Luật Giáo dục).
  • Phương pháp điều tra thực tiễn: Khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và giảng viên nhằm thu thập dữ liệu về số lượng, cơ cấu ngành nghề, độ tuổi, trình độ học vị/học hàm, tính đồng thuận và mô hình tổ chức biết học hỏi.
  • Phương pháp thử nghiệm giáo dục: Triển khai thử nghiệm mô hình quản lý nâng cao năng lực giảng viên thông qua đổi mới phương pháp dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông và khai thác phòng học bộ môn theo định hướng năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến đánh giá từ các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục qua phiếu hỏi và tại các hội thảo khoa học để thẩm định tính cấp thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp.
  • Kỹ thuật xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội và Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Dữ liệu khảo sát sơ cấp được số hóa bằng công nghệ quét hình ảnh và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel. Quy trình tiếp cận phát triển ĐNGV được chuẩn hóa qua bốn bước: Bước 1 - Phân tích thực trạng; Bước 2 - Định hướng chính sách; Bước 3 - Xây dựng giải pháp; Bước 4 - Xác định điều kiện thực hiện và điều hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lí luận về phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước về nhân lực đại học. Tác giả phân tích mười vai trò của trường đại học hiện đại theo định hướng UNESCO và bối cảnh đổi mới theo Nghị quyết 14/2005/NQ-CP. Vị trí người giảng viên được định vị đa vai trò: nhà giáo, nhà khoa học, nhà thiết kế chương trình, nhà tư vấn và nhà quản lý quá trình học tập. Luận án xây dựng mô hình cấu trúc nhân cách người giảng viên thời đại kinh tế tri thức gồm phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và bốn nhóm năng lực:

  1. Năng lực hành động (năng lực chuyên môn, sư phạm, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin);
  2. Năng lực chủ thể hóa (tính tự chủ, tự học, tự phát triển);
  3. Năng lực xã hội hóa (thích ứng xã hội, hợp tác cộng đồng);
  4. Năng lực giao tiếp (ứng xử sư phạm, trao đổi học thuật nội bộ và quốc tế).

Yêu cầu phát triển ĐNGV được xác định trên các phương diện: chuẩn hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và thi đua lành mạnh. Về nội dung, tác giả cụ thể hóa ba nhánh quản lý nguồn nhân lực của Leonard Nadler: xây dựng chuẩn giảng viên (chuẩn chất lượng, số lượng, nhiệm vụ); quy hoạch đội ngũ gắn với định mức giờ chuẩn và tỷ lệ SV/GV theo Quyết định 47/2001/QĐ-TTg (năng khiếu 5-10; kỹ thuật công nghệ 10-15; kinh tế, xã hội 20-25; trung bình 16,7); tuyển dụng công khai; đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên; thiết lập môi trường lao động tích cực và xây dựng tổ chức biết học hỏi. Nghiên cứu cũng phân tích kinh nghiệm quốc tế về giảm tải giờ dạy trên lớp và cơ cấu chức danh giữa giáo sư, trợ giảng và trợ lý tại Pháp (1 GS : 0,6 trợ giảng : 0,5 trợ lý), Bỉ (1 GS : 1,5 trợ lý) và Hà Lan (1 GS : 2,5 trợ giảng : 2 trợ lý).

Chương 2. Thực trạng ĐNGV và phát triển ĐNGV các trường ĐH ở vùng ĐBSCL

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về giáo dục đại học vùng ĐBSCL giai đoạn 2000 – 2008. Dựa trên số liệu khảo sát thực tế tại 11 trường đại học, tác giả đối chiếu sự phát triển quy mô sinh viên và biến động ĐNGV qua các bảng thống kê:

Nhóm dữ liệu thống kê trong luận án Danh mục bảng và nội dung phản ánh
Quy mô đào tạo và kết quả học tập Bảng 2.1 (Quy mô SV từ 2004 đến 2008), Bảng 2.2 (Kết quả SV tốt nghiệp), Bảng 2.3 (Xếp loại học tập của SV).
Hoạt động nghiên cứu và nhân lực Bảng 2.4 (Thống kê hoạt động NCKH từ 2004 đến 2008), Bảng 2.6 (Cơ cấu tỷ lệ GV và cán bộ nhân viên), Bảng 2.7 (Tình hình tăng quy mô GV và SV).
Nhu cầu và cơ cấu đội ngũ giảng viên Bảng 2.8 (Thống kê nhu cầu GV năm 2008), Bảng 2.9 (Cơ cấu theo nhóm ngành đào tạo), Bảng 2.10 (Cơ cấu độ tuổi ĐNGV), Bảng 2.12 (Tỷ lệ học vị và học hàm).
Đánh giá chất lượng và hoạt động phát triển Bảng 2.11 (Nhận định chung về chất lượng), Bảng 2.13 – 2.16 (Thành phần chính trị, ngoại ngữ, tin học), Bảng 2.17 – 2.22 (Phẩm chất, kiến thức, năng lực sư phạm, NCKH, dịch vụ xã hội, tự phát triển), Bảng 2.24 (Đánh giá hoạt động phát triển ĐNGV).

Các phát hiện chính từ dữ liệu thực trạng:

  • Về số lượng và quy mô: Tốc độ tăng quy mô sinh viên vượt xa tốc độ tăng trưởng giảng viên, dẫn đến tỷ lệ SV/GV ở nhiều ngành vượt quá quy định chuẩn, làm tăng tải trọng giờ dạy trên lớp và suy giảm thời gian dành cho nghiên cứu khoa học.
  • Về cơ cấu: Mất cân đối nghiêm trọng giữa các nhóm ngành; thiếu hụt trầm trọng giảng viên các ngành mũi nhọn, khoa học kỹ thuật, công nghệ cao và các ngành đào tạo mới phục vụ kinh tế nông nghiệp - thủy sản vùng. Cơ cấu độ tuổi có khoảng trống giữa thế hệ giảng viên lớn tuổi sắp nghỉ hưu và lực lượng giảng viên trẻ mới tuyển dụng chưa có nhiều kinh nghiệm.
  • Về chất lượng: Tỷ lệ giảng viên có học hàm GS, PGS và học vị tiến sĩ thuộc diện thấp nhất cả nước; trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu còn nhiều hạn chế.
  • Về công tác quản lý phát triển: Các trường chủ yếu quản lý khép kín, hoạt động tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng mang tính cục bộ nội bộ, chưa khai thác được nguồn lực chất xám chung của khu vực.

Chương 3. Giải pháp phát triển ĐNGV của các trường ĐH ở vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH

Dựa trên các nguyên tắc xây dựng giải pháp, tác giả đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Nhóm giải pháp 1: Liên kết ĐNGV giữa các trường đại học ở vùng ĐBSCL tạo thành mạng lưới. Đây là giải pháp trọng tâm mang tính đặc thù vùng. Luận án xác định 3 nguyên tắc và 9 nội dung liên kết; thiết lập cơ cấu tổ chức Ban điều phối chung (Sơ đồ 3.1), cơ chế hoạt động mạng lưới (Sơ đồ 3.2), quy trình vận hành (Sơ đồ 3.3); phối hợp số liệu quy hoạch nhu cầu giảng viên từng trường (Bảng 3.1), theo khối ngành (Bảng 3.2) và huy động lực lượng có học vị khoa học ngoài trường đại học (Bảng 3.5).
  • Nhóm giải pháp 2: Phát triển số lượng ĐNGV. Đổi mới quy trình tuyển dụng theo cơ chế cạnh tranh, dự báo chính xác quy mô sinh viên từng trường và từng nhóm ngành (Bảng 3.3, Bảng 3.4), thu hút giảng viên giỏi từ ngoài vùng và kiều bào.
  • Nhóm giải pháp 3: Nâng cao phẩm chất và năng lực ĐNGV. Triển khai nội dung đào tạo bồi dưỡng theo Sơ đồ 3.4 và quy trình năm bước tại Sơ đồ 3.5; giải quyết ba nhóm nhu cầu bồi dưỡng cấp thiết: bồi dưỡng kiến thức chuyên môn sâu, bồi dưỡng năng lực sư phạm đại học/đổi mới phương pháp dạy học và bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ, tin học, nghiên cứu khoa học.
  • Nhóm giải pháp 4: Điều chỉnh cơ cấu ĐNGV. Cân đối lại tỷ lệ giảng viên giữa các ngành đào tạo, quy hoạch tỷ lệ học vị thạc sĩ, tiến sĩ theo đúng lộ trình Nghị quyết 14/2005/NQ-CP, bảo đảm tỷ lệ cán bộ nữ và cán bộ người dân tộc thiểu số, chuẩn bị lực lượng kế cận thay thế giảng viên cao tuổi.
  • Nhóm giải pháp 5: Tạo động lực làm việc cho ĐNGV. Kết hợp hài hòa giữa đãi ngộ vật chất và động viên tinh thần; cải thiện môi trường làm việc sư phạm; thực hiện cơ chế dân chủ hóa, trao quyền tự chủ chuyên môn và xây dựng tổ chức biết học hỏi.

Kết quả khảo nghiệm thực tiễn: Khảo sát chuyên gia về tính cấp thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp (Bảng 3.6, 3.7, 3.8, 3.9) cho thấy điểm số định lượng đều đạt mức cao và có độ tương đồng giữa các nhóm đối tượng quản lý và giảng viên. Thử nghiệm đổi mới phương pháp dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin và phòng học bộ môn (Bảng 3.10) ghi nhận sự cải thiện rõ nét về tính tích cực học tập của sinh viên và kỹ năng điều phối sư phạm của giảng viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
  • Tiếp cận và cụ thể hóa lý thuyết quản lý nguồn nhân lực vào nghiên cứu, quy hoạch và dự báo phát triển ĐNGV phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam và tính đặc thù của vùng ĐBSCL.
  • Xác lập mô hình cấu trúc nhân cách mới của người giảng viên thời đại kinh tế tri thức, bao gồm hệ phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và bốn nhóm năng lực (năng lực hành động, năng lực chủ thể hóa, năng lực xã hội hóa, năng lực giao tiếp).
  • Xác định ba loại nhu cầu cấp thiết cần đào tạo, bồi dưỡng đối với giảng viên vùng ĐBSCL làm cơ sở thiết kế quy trình bồi dưỡng đạt chuẩn khu vực và quốc tế.
  • Đưa ra tư tưởng quản lý theo cơ chế mở, tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học thông qua mô hình hợp tác mạng lưới liên kết.
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Phân tích toàn diện thực trạng giáo dục đại học và ĐNGV tại 11 trường đại học vùng ĐBSCL giai đoạn 2000 – 2008, chỉ rõ các điểm nghẽn về số lượng, cơ cấu và chất lượng.
  • Xây dựng hệ thống năm nhóm giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp "Liên kết ĐNGV giữa các trường đại học ở vùng ĐBSCL tạo thành mạng lưới" được xác lập chi tiết với 3 nguyên tắc, 9 nội dung liên kết, cơ chế điều phối và quy trình tổ chức thực hiện, nhận được sự đồng thuận từ lãnh đạo các trường đại học và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ.
  • Khảo nghiệm định lượng chứng minh tính cấp thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp, cung cấp minh chứng thực nghiệm về hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học qua công nghệ thông tin và phòng học bộ môn.

Các kiến nghị, giải pháp đề xuất được tổng hợp theo các cấp quản lý:

Cấp quản lý Nội dung kiến nghị và giải pháp đề xuất
Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương Hoàn thiện hành lang pháp lý về quyền tự chủ nhân sự và tài chính cho trường đại học; ban hành chính sách đãi ngộ đặc thù thu hút giảng viên trình độ cao về công tác tại ĐBSCL; đầu tư ngân sách cho các chương trình bồi dưỡng sau đại học trong và ngoài nước.
Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và UBND các tỉnh Đưa nội dung phát triển GDĐH và liên kết ĐNGV vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng; hỗ trợ cơ chế phối hợp giữa các địa phương để tạo điều kiện ăn ở, đi lại cho giảng viên trong mạng lưới; thành lập Ban điều phối chung mạng lưới liên kết ĐNGV.
Các trường đại học vùng ĐBSCL Triển khai quy chế liên kết sử dụng chung giảng viên; chủ động chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ gắn với đổi mới phương pháp dạy học; quy hoạch bồi dưỡng giảng viên kế cận; xây dựng môi trường văn hóa nhà trường hướng tới mô hình tổ chức biết học hỏi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu thực tiễn giới hạn trong 11 trường đại học tại vùng ĐBSCL với mốc thời gian khảo sát chủ yếu từ năm 2000 đến năm 2008. Dữ liệu chưa thể bao quát được sự thay đổi nhanh chóng của các trường đại học mới thành lập sau năm 2008 hoặc các phân hiệu đại học ngoài công lập mới xuất hiện trong vùng. Ngoài ra, việc vận hành mạng lưới liên kết ĐNGV liên trường phụ thuộc lớn vào sự chỉ đạo liên ngành và cơ chế phối hợp quản lý của các cấp thẩm quyền địa phương, nên khi triển khai diện rộng đòi hỏi những điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn chính sách.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ giới hạn phạm vi nghiên cứu bao gồm: tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động dài hạn của mô hình mạng lưới liên kết ĐNGV khi các trường đại học tại ĐBSCL thực hiện tự chủ tài chính toàn diện; mở rộng khảo sát các mô hình liên kết đào tạo quốc tế tại chỗ; nghiên cứu cơ chế chuyển đổi vị trí việc làm và chế độ thỉnh giảng linh hoạt giữa trường đại học và doanh nghiệp trong vùng.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Luận án cung cấp một khung phân tích phương pháp luận hoàn chỉnh kết hợp giữa lý thuyết nguồn nhân lực của Leonard Nadler, Christian Batal và quy trình nghiên cứu bốn bước để khảo sát thực trạng giảng viên; đồng thời là tài liệu tham khảo mẫu mực về kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và xử lý thống kê mô tả.
  • Đối với cán bộ quản lý và ban giám hiệu các trường đại học ở vùng ĐBSCL: Bản quy hoạch nhu cầu giảng viên (Bảng 3.1, Bảng 3.2), cơ cấu Ban điều phối mạng lưới (Sơ đồ 3.1) và quy trình tổ chức đào tạo bồi dưỡng năm bước (Sơ đồ 3.5) là tài liệu hướng dẫn cụ thể để xây dựng chiến lược nhân sự ngắn hạn và dài hạn tại đơn vị.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh): Các kiến nghị về cơ chế liên kết vùng và dữ liệu thực trạng là căn cứ thực tiễn phục vụ việc điều chỉnh chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng trũng giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tình trạng của đội ngũ giảng viên các trường đại học vùng ĐBSCL giai đoạn 2000 – 2008 được luận án chỉ ra gồm những đặc điểm nổi bật nào?
    Theo số liệu khảo sát của luận án, ĐNGV vùng ĐBSCL rơi vào tình trạng thiếu về số lượng, tải trọng giờ dạy trên lớp quá lớn khiến giảng viên không có thời gian nghiên cứu chuyên môn. Tỷ lệ giảng viên có học hàm GS, PGS và học vị tiến sĩ quá thấp; năng lực ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh) hạn chế, làm giảm khả năng tiếp cận internet và hội nhập học thuật quốc tế. Bên cạnh đó, cơ cấu ngành nghề mất cân đối, thiếu giảng viên ở các ngành công nghệ, kỹ thuật mũi nhọn và giảng viên còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn cung ứng dịch vụ cho xã hội.

  2. Cấu trúc nhân cách người giảng viên đại học được luận án xây dựng gồm những thành tố cụ thể nào?
    Tác giả đề xuất mô hình cấu trúc nhân cách gồm phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, thái độ chính trị, lòng say mê khoa học và bốn nhóm năng lực cơ bản: năng lực hành động (năng lực chuyên môn, sư phạm, NCKH), năng lực chủ thể hóa (tính tự chủ và tự phát triển), năng lực xã hội hóa (thích ứng và tác động tích cực đến cộng đồng) và năng lực giao tiếp (ứng xử sư phạm và thiết lập quan hệ hợp tác học thuật).

  3. Giải pháp "Mạng lưới liên kết ĐNGV giữa các trường đại học vùng ĐBSCL" hoạt động dựa trên cơ chế và nguyên tắc nào?
    Giải pháp này hoạt động trên 3 nguyên tắc và 9 nội dung liên kết, được vận hành thông qua Ban điều phối chung do đại diện lãnh đạo các trường đại học trong vùng và đại diện Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tham gia quản lý. Cơ chế hoạt động dựa trên sự hợp tác, chia sẻ nguồn lực giảng viên chung theo cơ chế mở, bảo đảm sự hỗ trợ lẫn nhau giữa trường có tiềm lực mạnh với các trường mới nâng cấp, từ đó cân đối khối lượng giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo toàn vùng.

  4. Luận án căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để xác định tỷ lệ SV/GV và chỉ tiêu trình độ giảng viên?
    Tác giả căn cứ vào Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tỷ lệ SV/GV (5-10 đối với ngành năng khiếu; 10-15 đối với ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ; 20-25 đối với ngành khoa học xã hội nhân văn, kinh tế, quản trị kinh doanh; mức cao nhất trung bình là 16,7) và Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ quy định tỷ lệ SV/GV toàn hệ thống không quá 20; đặt ra chỉ tiêu đến năm 2010 có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 25% tiến sĩ, đến năm 2020 có 60% thạc sĩ và 35% tiến sĩ.

  5. Nội dung thử nghiệm giáo dục trong luận án được tổ chức thực hiện như thế nào và đem lại kết quả gì?
    Thử nghiệm tập trung vào công tác tổ chức quản lý nhằm nâng cao năng lực giảng viên thông qua đổi mới phương pháp dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông và khai thác hiệu quả phòng học bộ môn cũng như tài nguyên thư viện điện tử. Kết quả lượng hóa (trình bày tại Bảng 3.10 của luận án) cho thấy hoạt động thử nghiệm đã giúp giảng viên làm chủ công nghệ dạy học hiện đại, phát huy vai trò hướng dẫn người học và nâng cao rõ rệt tính chủ động của sinh viên trong quá trình tiếp thu kiến thức.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Văn Đệ là công trình nghiên cứu hệ thống về phát triển ĐNGV tại 11 trường đại học vùng ĐBSCL trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006 – 2020. Bằng cách vận dụng lý thuyết quản lý nguồn nhân lực và kết hợp phương pháp điều tra thực tiễn với thử nghiệm giáo dục, tác giả đã làm rõ thực trạng thiếu hụt và bất cập về cơ cấu của đội ngũ tại vùng trũng giáo dục. Điểm sáng tâm điểm của công trình là hệ thống năm nhóm giải pháp đồng bộ, nổi bật với mô hình mạng lưới liên kết giảng viên theo cơ chế mở nhằm giải quyết bài toán chia sẻ nhân lực chất lượng cao trong toàn vùng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho các nhà quản lý giáo dục, các trường đại học và cơ quan hoạch định chính sách trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long.