Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vị trí xung kích đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân khi chiếm tới 65,9% tổng số doanh nghiệp nhà nước và 33,6% số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khối doanh nghiệp này đóng góp từ 24% đến 25% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chiếm 31% giá trị sản xuất công nghiệp, đồng thời đảm nhận 78% tổng mức bán lẻ thương nghiệp và 64% khối lượng vận chuyển hàng hóa, hành khách trên toàn quốc.

Sau hơn 10 năm đổi mới, đặc biệt là dấu mốc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999, khu vực dân doanh đã có bước chuyển biến vượt bậc nhưng vẫn vấp phải nhiều rào cản nghiêm trọng về thể chế, tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và mặt bằng sản xuất. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng phát triển, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng và vai trò can thiệp của Chính phủ, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện các chính sách cơ bản nhằm tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu trên địa bàn 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 1991 đến tháng 7 năm 2003, với trọng tâm phân tích sâu giai đoạn 2000 đến 2003. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc luận giải các giải pháp chính sách nhằm gia tăng tỷ trọng vốn đầu tư từ khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân trong tổng đầu tư toàn xã hội từ mức 20% năm 2000 lên gần 27% năm 2003, đồng thời giải quyết sức ép việc làm cho khoảng 1,2 đến 1,4 triệu lao động mới gia nhập thị trường hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết kinh tế và quản trị cốt lõi: Lý thuyết quản trị tổ chức trực tuyến của Henri Fayol và Lý thuyết về vai trò can thiệp của Chính phủ trong nền kinh tế hỗn hợp. Theo nguyên tắc quản trị của Henri Fayol, mô hình quản trị trực tuyến thiết lập đường thẳng chỉ huy xuyên suốt từ cấp lãnh đạo xuống đốc công và tổ trưởng, đảm bảo sự tập trung quyền lực và thống nhất mệnh lệnh. Mô hình này rất phù hợp với đặc thù quy mô vừa và nhỏ, giúp tối ưu hóa khả năng phản ứng linh hoạt trước các biến động thương trường nhưng cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản trị tổng hợp cho người đứng đầu.

Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng lý thuyết kinh tế phúc lợi và thất bại thị trường nhằm luận giải sự cần thiết của quản lý nhà nước qua bốn chức năng then chốt: phân bổ nguồn lực kinh tế, phân phối lại thu nhập công bằng, ổn định kinh tế vĩ mô và đại diện quốc gia trên trường quốc tế. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: Doanh nghiệp vừa và nhỏ (xác định qua tiêu chí lao động thường xuyên và vốn sản xuất), Môi trường pháp lý (tổng hòa hệ thống văn bản quy phạm và hiệu lực thực thi pháp luật trên thực tế), và Quản trị doanh nghiệp (tổng thể giải pháp điều hành nhằm tối đa hóa lợi nhuận gắn liền với bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thực chứng kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh liên ngành. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp chính thống từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thuế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Cục Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng báo cáo đánh giá của Ủy ban nhân dân các địa phương trong giai đoạn 1991 - 2003.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 71.459 doanh nghiệp đăng ký mới từ năm 2000 đến tháng 7 năm 2003, kết hợp khảo sát chọn mẫu phân tầng chuyên sâu tại 1.650 doanh nghiệp có biến động hoạt động trên các địa bàn trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Nam Định, Quảng Ninh và Cần Thơ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo vùng kinh tế và nhóm ngành sản xuất - dịch vụ được lựa chọn nhằm phản ánh chân thực sự phân hóa mức độ thụ hưởng chính sách. Việc áp dụng phương pháp so sánh định lượng giúp lượng hóa chính xác hiệu ứng lan tỏa của khung khổ pháp lý mới, đảm bảo tính khách quan và cung cấp cơ sở tin cậy cho việc điều chỉnh chính sách vĩ mô.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp thành lập mới ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục cùng sự dịch chuyển cơ cấu loại hình tiến bộ. Từ năm 2000 đến tháng 7 năm 2003, cả nước có 71.459 doanh nghiệp đăng ký mới, nâng tổng số doanh nghiệp tư nhân lên khoảng 120.000 đơn vị, đạt tốc độ đăng ký bình quân năm gấp 3,75 lần so với thời kỳ 1991-1999. Tỷ trọng doanh nghiệp tư nhân giảm từ 64% xuống 34%, trong khi công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tăng vọt từ 36% lên 66%. Đáng chú ý, số lượng công ty cổ phần đạt khoảng 7.000 doanh nghiệp, gấp gần 10 lần giai đoạn 9 năm trước đó.

Thứ hai, khả năng huy động vốn nhàn rỗi và hiệu quả tạo việc làm của khối dân doanh đạt kết quả vượt trội. Tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt hơn 144.000 tỷ đồng (tương đương 9,5 tỷ USD), vượt mức vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân trên mỗi doanh nghiệp tăng mạnh từ 0,57 tỷ đồng thời kỳ 1991-1999 lên 2,12 tỷ đồng vào 7 tháng đầu năm 2003. Khối doanh nghiệp dân doanh đã tạo ra khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc mới, nâng tổng số lao động trực tiếp trong khu vực tư nhân và hộ cá thể lên hơn 6 triệu người (chiếm trên 16% lực lượng lao động xã hội). Suất đầu tư để tạo một chỗ làm việc trong doanh nghiệp tư nhân chỉ dao động từ 70 đến 100 triệu đồng, tiết kiệm chi phí gấp 3 lần so với mức 210 đến 280 triệu đồng của khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp và nguồn thu ngân sách gia tăng nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp khu vực dân doanh duy trì mức cao liên tục: 18,3% năm 2000, 20,3% năm 2001 và đạt 26,5% tổng giá trị công nghiệp toàn quốc vào năm 2003. Về ngân sách, số thu từ thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch, chiếm tỷ trọng lớn tại nhiều địa phương như Bình Định (33%), Tiền Giang (24%) và Quảng Nam (22%).

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện các rào cản nghiêm trọng về mặt bằng sản xuất và vốn tín dụng. Tại Hà Nội, giai đoạn 1994-2002 chỉ có 376 doanh nghiệp dân doanh tiếp cận được đất thuê của Nhà nước. Có tới 66,7% doanh nghiệp phản ánh gặp quá nhiều trở ngại trong việc tìm kiếm mặt bằng và 44,4% mất từ 1,5 đến 5 năm để hoàn tất thủ tục giao đất.

Thảo luận kết quả

Sự bùng nổ của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ bắt nguồn trực tiếp từ việc chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước từ chế độ "tiền kiểm" nặng nề sang "hậu kiểm" thông thoáng theo Luật Doanh nghiệp năm 1999. Tỷ lệ doanh nghiệp không còn hoạt động sau đăng ký chỉ chiếm khoảng 2,3% (1.650 doanh nghiệp), thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ giải thể 10% trong năm đầu tại Hoa Kỳ và 20% đến 40% trong 2 năm đầu tại các nước thuộc khối OECD. Điều này chứng minh năng lực thích ứng linh hoạt và sức chịu đựng của doanh nhân trong nước.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua bảng so sánh hiệu quả chi phí tạo việc làm (70-100 triệu đồng ở khu vực tư nhân so với 210-280 triệu đồng ở khu vực nhà nước) và biểu đồ tăng trưởng vốn đăng ký bình quân qua các năm (tăng liên tục từ 0,57 tỷ lên 0,96 tỷ; 1,3 tỷ; 1,8 tỷ và 2,12 tỷ đồng). Tuy nhiên, mức độ tác động của chính sách còn thiếu đồng đều giữa các khu vực địa lý. Trong khi các tỉnh miền núi phía Bắc ghi nhận mức tăng trưởng đăng ký doanh nghiệp mới gấp 4 đến 8 lần thì 16 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và Nam Trung Bộ có số đăng ký thấp hơn thời kỳ trước (Trà Vinh chỉ bằng 21%, Bến Tre 36%). Nguyên nhân chủ yếu do sự lúng túng của chính quyền địa phương trong quy hoạch, tâm lý can thiệp hành chính trái thẩm quyền và thiếu các định chế bảo lãnh tín dụng trung và dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực hiện quy hoạch mặt bằng và xây dựng cụm công nghiệp chuyên biệt: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần chủ động đầu tư xây dựng từ 5 đến 10 cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên mỗi địa bàn trong giai đoạn 2004 - 2006. Áp dụng phương thức tạo quỹ đất sạch trực tiếp để hạ giá thành cho thuê, rút ngắn quy trình phê duyệt hồ sơ thuê đất xuống dưới 45 ngày nhằm giải quyết bài toán mặt bằng cho hơn 60% doanh nghiệp đang có nhu cầu mở rộng quy mô.

Mở rộng cơ chế cấp tín dụng và thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng: Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng trung - dài hạn cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ từ mức dưới 15% lên tối thiểu 30% tổng dư nợ đến năm 2005. Cho phép đa dạng hóa hình thức bảo đảm tiền vay thông qua thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, quyền sử dụng đất thuê và hợp đồng kinh tế khả thi.

Triển khai đồng bộ các chương trình hỗ trợ theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP: Cục Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ phối hợp cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam triển khai các khóa đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho 50.000 lượt chủ doanh nghiệp và hỗ trợ đổi mới thiết bị công nghệ cho 30% cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đến hết năm 2006.

Hiện đại hóa quản lý nhà nước và duy trì đối thoại công - tư định kỳ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối mạng thông tin đăng ký kinh doanh đến 100% sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện trước quý IV năm 2004. Lãnh đạo các địa phương duy trì đối thoại trực tiếp với cộng đồng doanh nghiệp tối thiểu 2 lần mỗi năm nhằm giải quyết dứt điểm 100% các vướng mắc phát sinh về thuế, thủ tục hải quan và mặt bằng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển Doanh nghiệp và Ủy ban nhân dân các cấp: Khai thác khung phân tích thể chế và 4 nhóm giải pháp thực tiễn để hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp, bãi bỏ các rào cản hành chính và thiết kế các gói kích cầu phát triển kinh tế tư nhân.

Chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà khởi nghiệp và hộ kinh doanh cá thể: Ứng dụng mô hình quản trị trực tuyến tinh gọn theo nguyên tắc Fayol, tham khảo bài toán tối ưu hóa suất đầu tư 70-100 triệu đồng/lao động và nắm bắt các quy chuẩn pháp lý để chuyển đổi thành công từ hộ cá thể lên mô hình công ty cổ phần.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển: Sử dụng kho dữ liệu thực chứng 71.459 doanh nghiệp giai đoạn 2000-2003 làm nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu về kinh tế chuyển đổi và thể chế kinh doanh.

Chuyên viên thẩm định tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính phát triển: Tiếp cận bức tranh toàn cảnh về cơ cấu vốn, tỷ suất sinh lời và chu kỳ phát triển của khối dân doanh để xây dựng các sản phẩm cho vay tín chấp và bảo lãnh tín dụng phù hợp với đặc thù doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp như thế nào vào giải quyết việc làm tại Việt Nam? Khu vực này đóng vai trò là nguồn cung việc làm chủ đạo khi tạo ra 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc mới giai đoạn 2000-2003, nâng tổng số lao động khối dân doanh lên hơn 6 triệu người (chiếm trên 16% lực lượng lao động xã hội). Suất đầu tư tạo việc làm chỉ từ 70 đến 100 triệu đồng, thấp hơn 3 lần so với doanh nghiệp nhà nước.

Tác động mang tính bước ngoặt của Luật Doanh nghiệp năm 1999 là gì? Luật Doanh nghiệp đã giải phóng sức sản xuất xã hội khi xóa bỏ hàng trăm giấy phép con, chuyển đổi cơ chế quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Kết quả là số doanh nghiệp thành lập mới trong 4 năm (2000-2003) đạt 71.459 đơn vị, huy động hơn 144.000 tỷ đồng vốn dân cư, cao hơn toàn bộ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng kỳ.

Rào cản lớn nhất đối với việc mở rộng quy mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ là gì? Trở ngại nghiêm trọng nhất là tiếp cận đất đai làm mặt bằng sản xuất khi 66,7% doanh nghiệp gặp khó khăn và thời gian làm thủ tục kéo dài từ 1,5 đến 5 năm. Tại Hà Nội, giai đoạn 1994-2002 chỉ có 376 doanh nghiệp thuê được đất công, buộc đa số phải tự xoay xở mua lại với chi phí cao nhưng không thể thế chấp ngân hàng.

Mô hình quản trị trực tuyến có ưu điểm và hạn chế gì đối với doanh nghiệp nhỏ? Mô hình trực tuyến của Henri Fayol đảm bảo tính thống nhất mệnh lệnh chỉ huy từ trên xuống dưới, giúp ra quyết định nhanh và tiết giảm chi phí bộ máy. Tuy nhiên, nhược điểm là đòi hỏi người lãnh đạo phải có trình độ tổng hợp cao do thiếu vắng đội ngũ chuyên gia tham mưu chuyên sâu.

Đóng góp của khối kinh tế dân doanh vào sản xuất công nghiệp và ngân sách ra sao? Khối dân doanh đóng góp 26,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc năm 2003, chiếm 50% ngành chế biến thủy sản. Về ngân sách, số thu quý I/2003 tăng 28,7% so với cùng kỳ, đóng góp từ 15% đến 33% tổng thu ngân sách tại nhiều địa phương trọng điểm như Bình Định, Tiền Giang và Quảng Nam.

Kết luận

  • Khẳng định doanh nghiệp vừa và nhỏ là động lực tăng trưởng kinh tế then chốt, đóng góp 24-25% GDP và 26,5% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc.
  • Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã mở đường cho làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ với 71.459 doanh nghiệp thành lập mới và huy động hơn 144.000 tỷ đồng vốn xã hội trong giai đoạn 2000-2003.
  • Hiệu quả xã hội vượt trội được chứng minh qua việc tạo ra 1,6 đến 2 triệu việc làm mới với suất đầu tư chỉ 70-100 triệu đồng/lao động, tối ưu gấp 3 lần khu vực kinh tế nhà nước.
  • Nhận diện chính xác hai điểm nghẽn cốt lõi cần khơi thông là thủ tục tiếp cận đất đai mặt bằng sản xuất (66,7% doanh nghiệp vướng mắc) và cơ chế cấp vốn tín dụng trung - dài hạn.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm khuyến nghị chính sách đồng bộ giai đoạn 2004-2006, tập trung phát triển cụm công nghiệp tập trung, mở rộng quỹ bảo lãnh tín dụng và chuyển đổi số mạng lưới quản lý nhà nước.

Luận văn đóng góp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị cao cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nhân hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình để triển khai đồng bộ các giải pháp, thúc đẩy khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ bứt phá vững chắc trong giai đoạn hội nhập mới.