đặt vấn đề. Mặc dù Omidyar tính một mức phí rất nhỏ cho người bán nhưng công ty anh đã có lãi ngay từ ngày đầu tiên. Tiếp đến, Omidyar tìm được đối tác tên là Jeff Skoll, người có những kỹ năng mà Omidyar còn thiếu. không như Omidyar có kiến thức nền về máy tính, Skoll có bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh và nhiều trải nghiệm trong kinh doanh.
Cái tên eBay chưa hiện hữu cho đến mùa Thu năm 1999. Omidyar thích tên “echo Bay” nhưng khi anh đăng ký tên miền thì mới biết có người đăng ký tên www.com, vì thế anh đã rút ngắn tên thành eBay, và nó nghe cũng có vẻ hợp lý. Cuối năm 1997, eBay tăng nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư mạo hiểm mà Omidyar gặp trong lần thất bại với công ty đầu tiên. Tuy nhiên, eBay chưa bao giờ sử dụng nguồn vốn mạo hiểm này.
Thay vì thế, công ty đã yêu cầu các nhà đầu tư vốn giúp họ xây dựng nhóm quản lý hàng đầu. Nhờ vậy họ đã thuê đ ược Meg Whitman, một chuyên gia đã chèo lái con tày eBay từ tháng 3 năm 1999. công ty đã xây d ựng nhiều quan hệ hợp tác giúp đẩy nhanh sự phát triển của công ty. Chẳng hạn, chắc chức năng hosting của eBay là do hai công ty mà công chúng không biết đến cung cấp nhưng họ đã duy trì cho trang web của eBay hoạt động suốt 24h mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần trong tình trạng an toàn, cập nhật.
Pierre Omidyar và nhóm của ông đã tạo ra một công ty đẳng cấp quốc tế. Công ty bây giờ đã có 41 triệu người sử dụng và tiếp tục tăng trưởng, tiếp tục sinh lợi. TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP Theo số liệu của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, tính đến năm 2010 dân số Việt Nam vào khoảng 86 triệu người và mặc dù thu nhập bình quân theo đ ầu người l ần đ ầu -3- Chương trình đào tạo KHỞI SỰ KINH DOANH – Khóa K208QT Phân hiệu Đại Học Đà Nẵng tại KonTum tiên đạt 1024 USD/năm, nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo. Lịch sử phát triển của khu vực Đông Á đã chứng minh, 30 năm là thời gian đủ để một quốc gia lạc hậu trở nên phát triển.
Trong vòng 30 năm, Nhật Bản từ một nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã vươn lên trở thành một siêu cường quốc thứ hai thế giới. Hàn Quốc từ một nước bị ảnh hưởng của nội chiến đã vươn lên để trở thành một quốc gia công nghiệp phát triển và được thế giới biết đến qua các thương hiệu như Samsung, LG, Hyundai… Cũng trong khoảng thời gian này Singapore từ một quốc đảo mới giành được độc lập đã phát triển thành trung tâm tài chính – kinh tế của khu vực. Việc các quốc gia nói trên có thể phát triển được như ngày hôm nay là nhờ sự đóng góp rất nhiều từ các doanh nghiệp nói chung và các doanh nhân nói riêng. Vậy để Việt Nam có thể đ ạt được sự phát triển như các quốc gia trong khu vực Đông Á, doanh nhân Việt Nam cần phải làm gì? Câu hỏi: 1.
Nếu bạn là doanh nhân, bạn cần có những tố chất như thế nào? 2. Quan điểm của bạn về khát vọng làm giàu của doanh nhân Việt Nam hiện nay? 1. Khái niệm doanh nhân 1. Người sáng lập doanh nghiệp Nói đến người sáng lập doanh nghiệp là nói đến những thành viên đầu tiên tham gia vào quá trình hình thành một doanh nghiệp.
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), Công ty hợp danh, Công ty cổ phần thì Luật doanh nghiệp năm 2005 có đề cập đến thành viên sáng lập như sau: o “Thành viên sáng lập là người góp vốn, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của Công ty TNHH, Công ty hợp danh”. o “Cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào -4- Chương trình đào tạo KHỞI SỰ KINH DOANH – Khóa K208QT Phân hiệu Đại Học Đà Nẵng tại KonTum bản Điều lệ đầu tiên của Công ty cổ phần”. Như vậy có thể hiểu người sáng lập là những người chủ sở hữu đầu tiên của doanh nghiệp, họ bỏ vốn ra kinh doanh, tham gia xây dựng và ký thông qua bản Điều l ệ đ ầu tiên của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, do nguồn gốc hình thành và quá trình hoạt động gắn liền với một các nhân (tổ chức) nên người sáng lập đồng thời cũng là chủ sở hữu doanh nghiệp.
Chủ sở hữu thường trực tiếp điều hành hoặc cử đại diện tham gia điều hành doanh nghiệp (đối với công ty TNHH một thành viên do tổ chức thành lập). Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, thông thường do số l ượng thành viên cũng tương đối hạn chế, chủ sở hữu có thể là người sáng lập hoặc được chuyển nhượng lại nhưng thường trực tiếp tham gia vào bộ máy điều hành doanh nghiệp. Nhằm ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với cổ đông sáng lập, Luật Doanh nghiệp quy định các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đầy đủ trong 90 ngày. Trong thời hạn 3 năm, các cổ đông sáng lập có thể tự do chuyển nhượng cho nhau nhưng không được chuyển nhượng ra bên ngoài nếu chưa được Đại hội đồng cổ đông cho phép.
Điều này cũng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp c ủa các nhà đầu tư và cổ đông nhỏ đồng thời đảm bảo sự ổn định nhất định cho doanh nghiệp mới thành lập trong thời gian đầu hoạt động. Sau khi doanh nghiệp hoạt động ổn định được 3 năm, mọi hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ. Chủ sở hữu. Chủ sở hữu được hiểu là người sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp.
Chủ sở hữu có thể trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc ủy quyền điều hành cho người khác (Giám đốc điều hành) và chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi vốn góp của mình vào doanh nghiệp (trừ chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh). Xét về hình thức sở hữu, doanh nghiệp có thể có một chủ sở hữu (đơn sở hữu) có thể có nhiều chủ sở hữu (đa sở hữu). Doanh nghiệp đơn sở hữu, người chủ sở hữu có toàn quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến doanh nghiệp nhưng có thể có rủi ro hơn trong kinh doanh và -5- Chương trình đào tạo KHỞI SỰ KINH DOANH – Khóa K208QT Phân hiệu Đại Học Đà Nẵng tại KonTum khó khăn hơn khi huy động vốn. Trong một doanh nghiệp đa sở hữu, mối quan hệ hay sự phân chia quyền lực giữa các chủ sở hữu sẽ phụ thuộc vào phần vốn góp của họ vào doanh nghiệp, mối quan hệ này là mối quan hệ đối vốn.
Doanh nghiệp đa sở hữu có thể hạn chế được những rủi ro và khó khăn này nhờ số lượng chủ sở hữu đông đảo hơn, họ cùng chia sẻ quyền lực và cùng gánh chịu những rủi ro có thể xảy ra. g Về quyền sở hữu và điều hành. Trước đây, tron giai đoạn phát triển tự phát của khoa học quản trị (trước 1911), quyền sở hữu và quyền điều hành thường đi cùng nhau, khi đó người sở hữu cũng trực tiếp tham gia vào điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các giai đoạn sau, do quy mô và mức độ phức tạp trong quản lý tăng lên, hai vai trò này có xu hướng tách ra để tăng tính chuyên nghiệp và hiệu quả cũng như tạo sự cân bằng về quyền lực trong doanh nghiệp.
Giám đốc điều hành - CEO Amelio (trái)&Steve Balmer - CEO Rick Wagoner của tập CEO của Microsoft đoàn GM Tổng giám đốc hoặc Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer - CEO) được hiểu là nhà quản trị cấp cao nhất, chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong một doanh nghiệp, tập đoàn, công ty hay tổ chức. Cần phân biệt hoạt động quản trị doanh nghiệp của bộ máy điều hành và hoạt động quản trị công ty trong công ty đại chúng (công ty cổ phần). Trong công ty, CEO là người đứng đầu Ban lãnh đạo chịu trách nhiệm điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, CEO có thể là chủ sở hữu công ty (cổ đông) hoặc cá nhân độc lập từ bên ngoài. Cùng với Ban lãnh đạo này là một Ban giám sát (Hội đồng quản trị) phụ trách việc định hướng cho công ty, được bầu ra từ các cổ đông.
Hai lực lượng này được tổ chức bởi những con người khác nhau, CEO đứng đầu Ban lãnh đạo, Chủ tịch Hội đồng quản trị đứng đầu Ban giám sát, điều này nhằm đảm bảo sự độc lập trong điều hành của Ban lãnh đạo với sự cai quản của Ban giám sát, đồng thời phân ra một ranh giới rõ ràng về quyền lực, tránh sự tập trung quyền lực quá mức vào một cá nhân. -6- Chương trình đào tạo KHỞI SỰ KINH DOANH – Khóa K208QT Phân hiệu Đại Học Đà Nẵng tại KonTum Nhìn chung, CEO được hiểu là người có quyền điều hành cao nhất trong một doanh nghiệp. Để làm tốt nhiệm vụ này, CEO cần phải có kiến thức và kỹ năng đa lĩnh vực. Ngoài các kiến thức và kỹ năng kinh doanh, CEO còn phải am hiểu về luật pháp, nhân sự, tài chính, kế toán, thuế… 1.
Doanh nhân họ là ai? Khái niệm về doanh nhân: Doanh nhân là một từ được các phương tiện truyền thông của Việt Nam sử dụng để xác định một thành phần kinh tế tư nhân mới xuất hiện từ sau những năm 90 của thế kỷ 20. Thực chất có rất nhiều cách hiểu về doanh nhân, thậm chí theo nghĩa rộng, nhiều người còn cho rằng doanh nhân là người có vị trí trong một doanh nghiệp và làm công việc quản trị trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong phạm vi cuốn sách này, Doanh nhân được hiểu là những người tự bỏ vốn ra tiến hành sản xuất – kinh doanh và tự điều hành hoạt động sản xuất – kinh doanh của chính mình. Với quan niệm như vậy, giám đốc những doanh nghiệp nhà nước hiện còn tồn tại, những doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần chi phối, các giám đốc điều hành “đi làm thuê” sẽ không được coi là doanh nhân.
Quan niệm về doanh nhân qua từng thời kỳ: Thời phong kiến, các doanh nhân (thương gia, thương nhân) thời đó đứng cuối trong bậc thang xã hội (“Sĩ, nông, công, thương”) và không đ ược coi tr ọng.