Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1. Khái niệm người cao tuổi, trợ giúp xã hội, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 1. Khái niệm người cao tuổi Trên diễn đàn khoa học hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn.
Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”. Theo Tổ chức y tế thế giới: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên.
Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Sở dĩ ở mỗi nước có sự khác biệt về tuổi của người cao tuổi là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn.
Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau. Dưới góc độ của Công tác xã hội, người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do 6 đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của cộng đồng. Người cao tuổi hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định.
Khái niệm người cao tuổi được sử dụng thay cho người già/ người cao niên vì thực tế nhiều người từ 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ “người cao tuổi ” bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với cụm từ “người già”. Nhưng về khoa học thì người già hay người cao tuổi đều được dùng với ý nghĩa như nhau. Ở các nước phát triển, pháp luật quy định từ 65 tuổi trở lên được coi là người già/người cao niên/người cao tuổi. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và kém phát triển, quy định về độ tuổi của người già/người cao niên/người cao tuổi thường là 60 tuổi trở lên.
Ngoại trừ một số nước quy định mốc 65 tuổi trở lên. Hiện nay, chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, Liên Hợp Quốc chấp nhận từ 60 tuổi trở lên là mốc để xác định dân số già. Trong người già/người cao niên/người cao tuổi phân loại người già nhất từ 85 tuổi trở lên. Ở Việt Nam, Luật Người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 có hiệu lực ngày 1/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.
Quyền của người cao tuổi Khoản 3, Điều 37 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 7 Lần đầu tiên Hiến pháp nước ta đề cập đến quyền của người cao tuổi với nội dung toàn diện, phản ánh đầy đủ chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về công tác người cao tuổi trong xu thế chung của thế giới và nước ta là già hóa dân số đang là hiện tượng phổ biến, mang tính toàn cầu. Thể chế hóa đường lối quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật, từng bước tạo dựng được hệ thống chính sách chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi, xác định được mục tiêu của người cao tuổi là sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Cụ thể hóa Hiến pháp, khoản 1, Điều 3 Luật Người cao tuổi quy định quyền của người cao tuổi như sau: - Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ; - Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; - Được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; - Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi; - Được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò người cao tuổi; - Được miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện đóng góp; - Được ưu tiên nhận tiền, hiện vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác; - Được tham gia Hội người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội; 8 - Các quyền khác theo quy định của pháp luật Do khả năng kinh tế đất nước còn có hạn, nhiều chính sách đối với người cao tuổi đã được xây dựng, nhưng chưa có điều kiện thi hành.
Tuy nhiên, với một hệ thống pháp luật bảo đảm đầy đủ, chắc chắn khi kinh tế đất nước càng phát triển, người cao tuổi càng được thụ hưởng nhiều quyền lợi về vật chất, tinh thần hơn. Tính mạng, tài sản của người cao tuổi ngày càng được pháp luật bảo vệ chặt chẽ, góp phần bảo đảm quyền của người cao tuổi vững chắc hơn. Khái niệm trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội là một hợp phần trong hệ thống an sinh xã hội thực hiện chức năng trợ giúp bộ phận dân cư yếu thế tồn tại, vươn lên thoát khỏi khó khăn để có thể hòa nhập, tái hòa nhập đời sống xã hội. Tùy từng quốc gia khác nhau và trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau mà các quốc gia quy định nhóm các đối tượng yếu thế thuộc diện điều chỉnh của hệ thống chính sách trợ giúp xã hội, do vậy mà cũng đưa ra các khái niệm, thuật ngữ khác nhau về trợ giúp xã hội.
- Theo tổ chức lao động quốc tế (International labour Orgarnisation - ILO), trợ giúp xã hội là những chính sách, chế độ trợ giúp của nhà nước và do ngân sách Nhà nước đảm bảo để duy trì thu nhập của những người không có nguồn thu nhập từ quỹ bảo hiểm cũng như nâng mức thu nhập của những người đã có thu nhập từ quỹ bảo hiểm nhưng tổng thu nhập cá nhân vẫn chưa đạt mức sống tối thiểu đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người. [5] Khái niệm của tổ chức lao động quốc tế chỉ đề cập đến một chủ thể (Nhà nước) trong việc đảm bảo các chính sách trợ giúp xã hội và chưa đề cập đến trợ giúp xã hội phi chính thức hay trợ giúp xã hội truyền thống, đến sự tham gia của các đối tác xã hội (cộng đồng, cá nhân, các tổ chức chính trị - xã hội 9 khác. Đối tượng thuộc diện trợ giúp không chỉ là những cá nhân không có nguồn thu nhập ổn định, không thuộc diện điều chỉnh của các quỹ bảo hiểm mà còn đề cập đến các cá nhân có nguồn thu nhập ổn định thuộc diện điều chỉnh của các quỹ bảo hiểm, nhưng chưa đạt được mức sống tối thiểu. Căn cứ xác định mức trợ giúp theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế là mức sống tối thiểu, do vậy, mà căn cứ vào mức độ thiếu hụt thực tế so với mức sống tối thiểu của các nhóm đối tượng xã hội khác nhau mà Nhà nước thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội khác nhau.
- Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asian Developpment Bank - ADB) định nghĩa trợ giúp xã hội là các chương trình được thiết kế để giúp cho các cá nhân, gia đình và cộng đồng dễ bị tổn thương có thể duy trì được mức sống tối thiểu và cải thiện được đời sống của mình. [31] Quan niệm của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho thấy: + Trợ giúp xã hội là tập hợp các chương trình được thiết kế theo từng giai đoạn, phù hợp với từng nhóm đối tượng xã hội nhất định như cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng; + Đối tượng thuộc diện thụ hưởng các chương trình trợ giúp là những người dễ bị tổn thương trước các cú sốc của đời sống xã hội (ốm đau, bệnh tật, thu nhập bấp bênh); + Căn cứ xác định mức trợ giúp cho các nhóm đối tượng xã hội là mức sống tối thiểu và hướng tới việc nâng cao chất lượng sống. - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and Development - OECD) định nghĩa trợ giúp xã hội là sự hỗ trợ nhằm vào các hộ gia đình nằm trong nhóm dân cư có thu nhập thấp, được cung cấp để ngăn chặn tình trạng quá khốn khó đối với những người không có 10 nguồn lực nào khác, giảm rủi ro loại trừ xã hội, giảm thiểu tình trạng mất động cơ làm việc trả lương và đề cao tinh thần độc lập.[30] Quan niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cho thấy: + Các hoạt động trợ giúp xã hội đều hướng tới các hộ gia đình có mức thu nhập thấp của xã hội nhằm giúp họ vượt qua được tình trạng khốn khó đang gặp phải; + Các hoạt động trợ giúp xã hội nhằm giúp cho một bộ phân dân cư tránh được nguy cơ bị gạt ra bên lề xã hội, giúp họ tăng cường niềm tin và động lực hòa nhập/tái hòa nhập xã hội. - Theo tổ chức y tế thế giới – WHO: Trợ giúp xã hội là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc phi tiền tệ của chính phủ, không phụ thuộc vào quan hệ đóng- hưởng, nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu theo luật định hoặc theo chuẩn mực tối thiểu của một xã hội nào đó cho người thụ hưởng thông qua hình thức đánh giá tài sản hoặc thu nhập.
Theo quan điểm hiện đại, trợ giúp xã hội bao gồm 3 loại hình: hỗ trợ thu nhập, phúc lợi gia đình và dịch vụ xã hội.