Tổng quan nghiên cứu

Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã trải qua tiến trình chuyển biến mạnh mẽ, đặc biệt kể từ sau khi Việt Nam chính thức ký kết gia nhập Công ước Lahay năm 1993 vào ngày 07/12/2010 và Quốc hội thông qua Luật Nuôi con nuôi năm 2010 với 5 chương, 52 điều (có hiệu lực từ ngày 01/01/2011). Trước thời điểm này, khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này còn phân tán tại hơn 10 văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, cùng các Nghị định 184/CP năm 1994, Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP. Tình trạng quy định tản mạn đã tạo ra sự chồng chéo về thẩm quyền, thiếu tính dự liệu và tiềm ẩn nguy cơ trục lợi thương mại hóa trong hoạt động cho nhận con nuôi quốc tế.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nền tảng, phân tích thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam, đồng thời đối chiếu so sánh với chuẩn mực của 82 quốc gia thành viên Công ước Lahay năm 1993 nhằm rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp xác đáng. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử pháp luật từ trước năm 1986 đến giai đoạn 2011 - 2012 trên địa bàn cả nước và hệ thống điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở khoa học để chuẩn hóa 100% quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ nuôi con nuôi quốc tế, bảo đảm quyền được sống trong môi trường gia đình gốc của trẻ em và ngăn ngừa tối đa các rủi ro pháp lý xuyên quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Thuyết quyền trẻ em quốc tế theo Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 và Thuyết quan hệ gia đình nhân tạo trong Tư pháp quốc tế. Thuyết quyền trẻ em đặt nguyên tắc "vì lợi ích tốt nhất của trẻ em" làm trọng tâm điều chỉnh, trong khi thuyết quan hệ gia đình nhân tạo khẳng định nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý tạo lập mối liên kết cha mẹ và con thông qua sự phê chuẩn của cơ quan công quyền thay vì quan hệ huyết thống sinh học.

Khung lý thuyết của luận văn tập trung làm sáng tỏ 4 khái niệm then chốt: nuôi con nuôi dưới góc độ quan hệ xã hội, nuôi con nuôi với tư cách là một sự kiện pháp lý, quan hệ pháp luật nuôi con nuôi gồm 3 yếu tố (chủ thể, khách thể, nội dung), và chế định pháp lý nuôi con nuôi theo Điều 3 và Điều 28 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Luận văn đối chiếu mô hình hành vi pháp lý đơn phương được áp dụng tại các nước như Pháp, Đức, Thụy Điển với mô hình hành vi pháp lý có sự công nhận của cơ quan hành chính nhà nước tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong nước qua các thời kỳ (tiêu biểu như Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ, Bộ dân luật Bắc Kì năm 1931, Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000 và Luật Nuôi con nuôi năm 2010), cùng nguồn tài liệu thực tiễn từ 15 Hiệp định tương trợ tư pháp và 14 Hiệp định song phương về nuôi con nuôi mà Việt Nam đã ký kết với Pháp (năm 2000), Đan Mạch (năm 2003), Thụy Điển (năm 2004), Hoa Kỳ (năm 2005), Canada và Tây Ban Nha (năm 2007).

Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm toàn bộ 14 hiệp định song phương chuyên biệt và các quy định pháp luật của 82 quốc gia thành viên thuộc Công ước Lahay năm 1993. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng nhằm bao quát cả 2 hệ thống pháp luật lớn là Civil Law và Common Law. Nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh luật học làm công cụ phân tích chủ đạo, kết hợp với phương pháp phân tích chuẩn tắc và phương pháp lịch sử cụ thể. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm nhận diện rõ ràng các điểm tương đồng, xung đột pháp luật, cũng như xung đột thẩm quyền giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế trong suốt timeline phát triển từ năm 1986 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã tạo bước ngoặt khi chính thức luật hóa nguyên tắc tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc và nguyên tắc bổ trợ theo Điều 4. Theo đó, việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không tìm được gia đình thay thế trong nước. Thứ tự ưu tiên gồm 5 bậc tại Điều 5 đã xếp người nước ngoài thường trú ở nước ngoài ở vị trí ưu tiên cuối cùng.

Thứ hai, các tiêu chuẩn đối với người nhận con nuôi và con nuôi được thắt chặt. Người nhận nuôi bắt buộc phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên theo điểm b khoản 1 Điều 14, đồng thời phải đáp ứng điều kiện kép của cả pháp luật Việt Nam và pháp luật nước nơi người đó thường trú theo Điều 29. Đặc biệt, khoản 1 Điều 21 quy định bắt buộc phải lấy ý kiến đồng thuận trực tiếp của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên, chấm dứt hoàn toàn tình trạng đồng thuận mang tính hình thức trước đây.

Thứ ba, quy trình thủ tục hành chính được chuẩn hóa với các mốc thời gian rõ ràng: thời hạn 30 ngày để Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em và thời hạn 10 ngày để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định phê duyệt theo quy định tại khoản 1 Điều 36.

Thứ tư, mô hình quản lý tập trung thông qua Cơ quan Trung ương về con nuôi được kiện toàn vững chắc. Quyết định số 337/2003/QĐ-BTP và sau đó là Nghị định số 93/2008/NĐ-CP đã thống nhất chức năng quản lý nhà nước về Cục Con nuôi trực thuộc Bộ Tư pháp, loại bỏ sự phân mảnh quản lý tại 3 cơ quan riêng biệt từng xảy ra ở cấp tỉnh trong thời kỳ thực hiện Quyết định số 145/HĐBT năm 1992.

Thảo luận kết quả

Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về tính minh bạch và mức độ an toàn pháp lý cho trẻ em. Những phát hiện này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua một bảng so sánh thẩm quyền thụ lý hồ sơ qua 3 giai đoạn (giai đoạn Nghị định 184/CP năm 1994, giai đoạn Nghị định 68/2002/NĐ-CP năm 2002 và giai đoạn Luật Nuôi con nuôi năm 2010), cùng một biểu đồ tiến trình xử lý hồ sơ hành chính với 2 mốc thời gian 30 ngày và 10 ngày.

So sánh với mô hình của Pháp và Thụy Điển - nơi thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi thuộc về Tòa án thông qua một phán quyết tư pháp, hệ thống của Việt Nam lựa chọn mô hình hỗn hợp: giao quyền quyết định cho cơ quan hành chính (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) dưới sự điều phối của Cục Con nuôi. Sự kết hợp này phù hợp với điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, đồng thời vẫn tương thích hoàn toàn với cơ chế Cơ quan Trung ương theo quy định của Công ước Lahay năm 1993, giúp theo dõi và bảo vệ quyền lợi của trẻ em cho đến khi đủ 18 tuổi tại hơn 80 quốc gia thành viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý bằng việc khẩn trương ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết Nghị định số 19/2011/NĐ-CP và Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục tiêu là giải quyết dứt điểm 100% các xung đột thẩm quyền và chuẩn hóa quy định giải quyết nuôi con nuôi tại khu vực biên giới trong giai đoạn 2012 - 2015. Chủ thể thực hiện: Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và Bộ Ngoại giao.

Thứ hai, hiện đại hóa và số hóa toàn diện quy trình tiếp nhận hồ sơ con nuôi quốc tế. Xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử liên thông giữa Cục Con nuôi với 63 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố nhằm rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ từ 30 ngày xuống còn khoảng 20 ngày, bảo đảm tính công khai, minh bạch trước năm 2015. Chủ thể thực hiện: Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp.

Thứ ba, thiết lập cơ chế giám sát định kỳ sau nuôi con nuôi một cách nghiêm ngặt. Ban hành quy chế phối hợp bắt buộc các gia đình nhận nuôi gửi báo cáo phát triển của trẻ định kỳ 6 tháng một lần trong 3 năm đầu và mỗi năm một lần cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi. Chủ thể thực hiện: Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài phối hợp cùng Cơ quan Trung ương của 82 quốc gia thành viên Công ước Lahay năm 1993.

Thứ tư, tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ hộ tịch - tư pháp tại hơn 11.000 xã, phường, thị trấn trên cả nước trước quý IV/2014. Nội dung trọng tâm là phương pháp xác minh tính tự nguyện của gia đình gốc và kỹ năng lấy ý kiến độc lập của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp các địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp bao gồm Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi và 63 Sở Tư pháp trên cả nước. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để đánh giá tác động chính sách và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

Nhóm thứ hai là các thẩm phán, luật sư, chuyên viên tư pháp và tổ chức trợ giúp pháp lý. Đây là cẩm nang hữu ích để tra cứu các quy tắc giải quyết xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền và xử lý hơn 10 dạng tranh chấp dân sự liên quan đến quyền thừa kế, quốc tịch và hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Nhóm thứ ba là các tổ chức con nuôi quốc tế được cấp phép hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ bảo vệ trẻ em. Tài liệu giúp các đơn vị này nắm vững quy trình 5 bước theo tiêu chuẩn Công ước Lahay năm 1993 để triển khai hoạt động nhân đạo phi lợi nhuận đúng quy định.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Dân sự và Tư pháp quốc tế. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp so sánh luật học và dữ liệu phân tích từ 14 hiệp định song phương.

Câu hỏi thường gặp

Điều kiện về độ tuổi đối với người nước ngoài muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được quy định như thế nào? Theo điểm b khoản 1 Điều 14 và Điều 29 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, người nhận nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Đồng thời, họ phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở theo quy định của cả pháp luật Việt Nam và pháp luật nước nơi họ đang thường trú.

Trẻ em ở độ tuổi nào bắt buộc phải thể hiện sự đồng ý khi được nhận làm con nuôi? Căn cứ khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì bắt buộc phải có sự đồng ý của chính trẻ em đó. Cán bộ tư pháp có trách nhiệm lấy ý kiến độc lập, bảo đảm phản ánh đúng nguyện vọng tự nguyện và không bị áp đặt.

Thời hạn giải quyết việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài tại Sở Tư pháp là bao lâu? Theo khoản 1 Điều 36 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp tiến hành xem xét, giới thiệu trẻ em và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thời hạn 10 ngày để đưa ra quyết định đồng ý hoặc từ chối bằng văn bản.

Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ em được quy định ra sao? Điều 5 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định 5 bậc ưu tiên: thứ nhất là cha dượng, mẹ kế, cô cậu dì chú bác ruột; thứ hai là công dân Việt Nam thường trú trong nước; thứ ba là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam; thứ tư là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; và cuối cùng là người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.

Việc Việt Nam gia nhập Công ước Lahay năm 1993 mang lại ý nghĩa gì cho công tác bảo vệ trẻ em? Gia nhập Công ước Lahay năm 1993 giúp Việt Nam thiết lập hành lang hợp tác đa phương chính thức với 82 quốc gia thành viên. Cơ chế này bảo đảm việc cho nhận con nuôi hoàn toàn vì mục đích nhân đạo, ngăn chặn hiệu quả tệ nạn mua bán trẻ em và duy trì giám sát tình trạng phát triển của trẻ đến khi đủ 18 tuổi.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện tiến trình phát triển của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài từ trước năm 1986 đến sau năm 2010.
  • Xác lập 2 nguyên tắc lập pháp cốt lõi: tôn trọng quyền sống trong môi trường gia đình gốc và nguyên tắc bổ trợ của việc nuôi con nuôi quốc tế.
  • Phân tích và so sánh sâu sắc sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam, 14 hiệp định song phương và Công ước Lahay năm 1993.
  • Chuẩn hóa quy trình hành chính minh bạch với các mốc thời gian rõ ràng gồm 30 ngày tại Sở Tư pháp và 10 ngày tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cho đội ngũ tư pháp tại hơn 11.000 đơn vị hành chính cấp cơ sở.

Đóng góp chính của luận văn là công trình khoa học chuyên sâu, cung cấp hệ thống lý luận và thực tiễn đồng bộ ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Lahay năm 1993. Về lộ trình tiếp theo, cần tập trung hoàn thiện các thông tư liên tịch hướng dẫn trong giai đoạn 2013 - 2015 và số hóa toàn diện cơ sở dữ liệu con nuôi quốc gia trước năm 2020. Các nhà nghiên cứu, cơ quan tư pháp và người thực hành pháp luật hãy cùng khai thác những giá trị học thuật từ công trình này để tiếp tục củng cố mạng lưới bảo vệ quyền trẻ em trong bối cảnh hội nhập quốc tế.