Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề lý luận chung về nhượng quyền thương mại 1. Khái niệm nhượng quyền thương mại Xuất hiện như một hình thức của dịch vụ phân phối, mô hình kinh doanh NQTM đang phát triển với tốc độ nhanh chóng và được lan rộng trên toàn thế giới. Thuật ngữ NQTM đã có từ rất lâu đời, khởi nguồn của nó được coi là từ Trung Quốc cổ đại khi những mầm mống sơ khai của hoạt động NQTM được hình thành.
Tuy nhiên, với đặc tính của một phương thức kinh doanh hiện đại thì phải đến giữa thế kỷ thứ XIX, NQTM mới bắt đầu diễn ra ở Mỹ. Vào thời điểm đó, trong quá trình tìm kiếm cách thúc đẩy doanh số bán máy khâu của mình, công ty I. Singer đã tình cờ phát triển hệ thống NQTM sơ khai đầu tiên tại Mỹ. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, nhiều hệ thống nhà hàng, khách sạn và các mô hình kinh doanh bán lẻ được ra đời đã thúc đẩy hoạt động NQTM thực sự phát triển và lan rộng mạnh mẽ (Nguyễn Thị Phương Thảo, 2020).
Sự bùng nổ của hoạt động NQTM ở phạm vi toàn cầu mới chỉ khoảng từ 20 cho đến 30 năm gần đây. Những yếu tố hấp dẫn như chi phí thấp và rủi ro thấp đã khiến cho không ít DN trên thế giới ngày càng quan tâm và tham gia tích cực vào hoạt động NQTM. Hiện nay, ngành NQTM đã trở thành một trong những ngành dịch vụ có doanh số đáng kể, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như đồ uống, đồ ăn nhanh, giáo dục, thời trang hay bất động sản,. bởi vì chúng là những lĩnh vực tiềm năng mang lại lợi nhuận cao.
Tính đến năm 2018, NQTM đã có mặt tại hơn 160 quốc gia trên thế giới, với hơn 17.000 hệ thống NQ đã đóng góp đáng kể vào GDP và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia (Nguyễn Thị Liên Phương, 2018, trang 9). Tại Mỹ, quốc gia được cho là cái nôi của ngành NQ, con số này là 5,1%. Tuy nhiên, ở Canada, tỷ lệ này lên đến 10%, ở Úc là 9% và Nam Phi là 9,7%, cho thấy mức đóng góp của ngành NQ tại các quốc gia này còn cao hơn đáng kể so với Mỹ. Trong khu vực châu Á, Hàn Quốc là quốc 9 gia có sự phát triển hoạt động NQTM mạnh mẽ nhất, với đóng góp của NQTM vào GDP lên đến 7,8%.
Malaysia, Philippines và Singapore lần lượt đứng sau với tỷ lệ đóng góp của NQTM là 6,3%, 5% và 3%. Đối với Malaysia, Chính phủ nước này đã lựa chọn ngành NQ như một chiến lược dài hạn để thúc đẩy sự phát triển các DN nhỏ và vừa của đất nước thay vì tập trung vào xuất khẩu hàng hóa và sản phẩm sẽ thay thế bằng cách xuất khẩu mô hình và thương hiệu (Ngọc Bình, 2021). Phương thức kinh doanh NQTM đã bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam từ trước năm 1975, thông qua việc thực hiện một số hệ thống NQ của các trạm xăng dầu của Mỹ như Mobil, Exxon (Esso), Shell. Sau đó, trong giai đoạn giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, phương thức kinh doanh này lại tiếp tục xuất hiện tại Việt Nam.
Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của NQTM, LTM năm 2005 cũng đã đề cập đến hoạt động này tại Điều 284. Xu hướng mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhanh chóng trong những năm gần đây đã giúp Việt Nam trở thành thị trường được các thương hiệu lớn trong khu vực và quốc tế quan tâm, tìm kiếm cơ hội hợp tác NQTM (Nguyễn Thị Phương Thảo, 2020). Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hoạt động NQTM tại Việt Nam đã chính thức trở nên sôi động hơn bao giờ hết, khi hành lang pháp lý vận hành hoạt động của DN đã tương đối đầy đủ và mang chuẩn mực quốc tế. Định nghĩa nhượng quyền thương mại NQTM hay còn được biết đến với tên gọi là Franchise.
Nguồn gốc của từ Franchise là từ tiếng Pháp cổ, tức là “franc” (có nghĩa là tự do). Trong Từ điển Webmaster năm 1913, người ta cho rằng NQTM là một đặc quyền hoặc quyền được cấp cho một người hoặc một nhóm bởi bởi chủ sở hữu. Chủ sở hữu ủy quyền cho nhà phân phối hoặc đại lý bán sản phẩm của mình1. Hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của NQTM - franchise, có nhiều định nghĩa của các quốc gia đã được ra đời nhằm cung 1 Từ điển Webmaster năm 1913: “Franchise is 1.
A privilege or right granted a person or a group by government, state or sovereign. Authorization granted by a manufacture to a distributor or dealer to sell his products” 10 cấp những giải thích và hướng dẫn các DN trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh NQ một cách hiệu quả. Thế nhưng, các định nghĩa này thường khác nhau, nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt về quan điểm, môi trường kinh tế cũng như chính trị và xã hội giữa các quốc gia. NQTM được tiếp cận thông qua định nghĩa của một số tổ chức trên thế giới như sau: Theo Hiệp hội NQ quốc tế IFA - International Franchising Association2, thì: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ ổn định và liên tục, trong đó bên nhận quyền nhận được một đặc quyền thương mại được cấp phép bởi bên nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh với cùng một thương hiệu với bên nhượng quyền đồng thời với việc nhận được sự hỗ trợ của bên này.
Đổi lại bên nhận quyền trả một khoản phí được xem như là một sự trao đổi ngang giá với đặc quyền được hưởng từ bên nhượng quyền”. Theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ FTC - Federal Trade Commission3 thì: “Nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều người, trong đó: bên nhận quyền được cấp quyền bán hoặc phân phối sản phẩm/dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của bên nhượng quyền; Hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền phải triệt để tuân thủ kế hoạch hay hệ thống tiếp thị gắn liền với nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng, tiêu chí quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của bên nhượng quyền; bên nhận quyền có nghĩa vụ trả một khoản phí trực tiếp hoặc gián tiếp gọi là phí nhượng quyền thương mại”. 2 Hiệp hội Nhượng quyền quốc tế (IFA) là một hiệp hội thương mại phi lợi nhuận của các thành viên gồm: BNhQ, BNQ và nhà cung cấp. Được thành lập vào năm 1960, văn phòng của IFA có trụ sở tại Washington, D.
IFA thúc đẩy các hoạt động NQTM tốt đẹp bằng cách đảm bảo tất cả các thành viên tuân theo một qui tắc đạo đức cứng rắn. IFA giúp hỗ trợ và phát triển ngành NQTM bằng việc tổ chức các sự kiện và các cuộc họp, xuất bản các bài báo và sách, dựa trên cơ sở dữ liệu trực tuyến của họ. 3 Ủy ban Thương mại Liên bang đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ cho các doanh nghiệp Mỹ trung thực. Đây là một cơ quan chi nhánh điều hành độc lập của chính phủ Hoa Kỳ, FTC được thành lập theo Đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang năm 1914 như là một phần trong sáng kiến của Tổng thống Woodrow Wilson nhằm phá vỡ tín thác kinh doanh độc quyền.
Ngày nay, các nhiệm vụ chính của FTC là bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hoạt động kinh doanh lừa đảo và gian lận và để loại bỏ và ngăn chặn các hoạt động kinh doanh không lành mạnh hoặc chống cạnh tranh. 11 Theo Cộng đồng chung Châu Âu EC (nay là Liên minh Châu Âu EU)4, NQTM là “một tập hợp những quyền sở hữu cá nhân và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng” (Nguyễn Thị Liên Phương, 2018, trang 11). Dưới góc độ kinh tế, NQTM có thể hiểu là một hoạt động thương mại trong đó một thương nhân chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu, bí quyết kinh doanh và mô hình hoạt động cho một thương nhân khác, nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh và phân phối hàng hóa, dịch vụ của mình. Hoạt động này là kết quả của sự thỏa thuận giữa ít nhất hai bên, bao gồm bên sở hữu quyền thương mại còn gọi là BNhQ và bên độc lập muốn sử dụng quyền này để kinh doanh chính là BNQ.
Các bên thỏa thuận với nhau về việc BNhQ chuyển nhượng quyền kinh doanh, bao gồm mô hình kinh doanh, các kỹ thuật sản xuất và cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ dưới thương hiệu hoặc nhãn hiệu của mình cho BNQ. Theo thỏa thuận, BNQ sẽ phải trả cho BNhQ một khoản phí cố định hoặc phần trăm doanh thu trong một khoảng thời gian xác định (Nguyễn Thị Vân, 2011). BNQ có thể sử dụng quyền thương mại của BNhQ để khai thác, kinh doanh nhưng phải đồng ý tuân theo một số điều kiện nhất định do BNhQ đưa ra. Dưới góc độ pháp lý, NQTM được ghi nhận trong quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới.
Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định về NQTM như sau: “Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), 4 Liên minh Châu Âu là liên minh kinh tế - chính trị bao gồm 28 quốc gia thành viên thuộc châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Với hơn 500 triệu dân, Liên minh châu Âu chiếm khoảng 22%. Đây được xem là tổ chức thương mại quốc tế lớn nhất và có quyền lực nhất trên thế giới.
EU gồm các thành viên có nền kinh tế hùng mạnh như Đức, Anh, Pháp, Tây Ba Nha… 12 danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó” (Tô Thị Phương Dung, 2010).