Khóa luận về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình Luật 2022

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích quy định về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình

Khóa luận tốt nghiệp luật học về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 là đề tài mang tính cấp thiết sâu sắc. Đạo luật năm 2022 đã bổ sung nhiều điểm mới tiến bộ nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo vệ nạn nhân. Khái niệm nạn nhân bạo lực gia đình được chuẩn hóa rõ ràng, bao gồm người bị xâm hại bởi hành vi thể xác, tinh thần, kinh tế hoặc tình dục từ các thành viên trong gia đình. Pháp luật thiết lập cơ chế tôn trọng quyền tự quyết của nạn nhân. Nạn nhân được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và tài sản hợp pháp. Đồng thời, nạn nhân có quyền yêu cầu người có hành vi bạo lực chấm dứt vi phạm, áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc hoặc bố trí nơi tạm lánh an toàn. Bên cạnh việc thụ hưởng quyền lợi, nạn nhân cũng có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực về hành vi bạo lực, tuân thủ hướng dẫn y tế và phối hợp với cơ quan chức năng khi giải quyết vụ việc. Việc nghiên cứu toàn diện hệ thống quyền và nghĩa vụ này giúp làm rõ các căn cứ lý luận, từ đó đề xuất phương hướng nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật trên thực tiễn đời sống xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của nạn nhân bạo lực gia đình

Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, nạn nhân bạo lực gia đình là cá nhân bị xâm phạm trực tiếp bởi các hành vi bạo lực từ thành viên gia đình hoặc người có mối quan hệ gia đình đặc thù. Đặc điểm cốt lõi của nhóm đối tượng này là tính chất dễ bị tổn thương về thể chất, tâm lý và vị thế kinh tế. Nạn nhân thường chịu sự chi phối bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, khiến hành vi chống trả hay tố giác gặp nhiều rào cản tâm lý. Mối quan hệ khép kín trong gia đình làm cho các hành vi bạo lực dễ bị che giấu kéo dài. Việc nhận diện chính xác tư cách pháp lý nạn nhân là nền tảng áp dụng các biện pháp can thiệp khẩn cấp.

1.2. Căn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ nạn nhân

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của nạn nhân tại Điều 9 và Điều 10. Quyền của nạn nhân tập trung vào việc yêu cầu bảo vệ tính mạng, thân thể, chăm sóc y tế, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và bố trí chỗ ở an toàn. Nạn nhân được giữ bí mật thông tin đời tư cá nhân và yêu cầu người gây bạo lực bồi thường thiệt hại. Song hành với quyền lợi, nghĩa vụ của nạn nhân bao gồm việc cung cấp thông tin trung thực, kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền và tuân thủ các quy định về an toàn. Sự kết hợp hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để nạn nhân tự bảo vệ mình.

II. Phân tích thực trạng thực hiện quyền của nạn nhân bạo lực

Thực tiễn áp dụng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực song vẫn bộc lộ không ít bất cập. Khảo sát thực tế cho thấy tỷ lệ nạn nhân chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ từ cơ quan công quyền còn rất thấp. Hơn 87% phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình chưa từng liên hệ với chính quyền hay tổ chức đoàn thể để yêu cầu hỗ trợ. Tâm lý cam chịu, mặc cảm xấu hổ và nỗi sợ điều tiếng xã hội khiến nạn nhân chọn cách im lặng. Rào cản về thủ tục hành chính, đặc biệt là quy định yêu cầu nạn nhân phải làm đơn đề nghị bảo vệ, đã làm hạn chế khả năng tiếp cận pháp lý. Nhiều nạn nhân lo sợ bị trả thù hoặc bạo lực leo thang nếu tố giác hành vi sai trái của người thân. Bên cạnh đó, việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin của nạn nhân còn thiếu tính hợp tác do e ngại định kiến từ cộng đồng. Cơ chế thực thi biện pháp cấm tiếp xúc và bố trí nơi tạm lánh tại cơ sở vẫn còn lúng túng, làm suy giảm niềm tin của nạn nhân vào hiệu lực bảo vệ của pháp luật hiện hành.

2.1. Rào cản tâm lý và định kiến xã hội đối với nạn nhân

Định kiến giới và tư tưởng gia trưởng truyền thống là rào cản lớn nhất ngăn nạn nhân thực hiện quyền tự bảo vệ. Đa số nạn nhân xem bạo lực là việc nội bộ gia đình nên có xu hướng cam chịu để giữ gìn thể diện chung. Khoảng 48,4% nạn nhân cho rằng bạo lực là điều bình thường hoặc không đáng để báo cáo cơ quan chức năng. Nỗi sợ bị người xung quanh đàm tiếu, nghi ngờ hoặc phán xét chiếm tỷ lệ cao trong các khảo sát xã hội học. Tâm lý e ngại này khiến nạn nhân tự tước bỏ quyền được trợ giúp pháp lý và y tế, làm cho tình trạng bạo hành kéo dài nghiêm trọng hơn.

2.2. Vướng mắc trong quy trình thủ tục yêu cầu bảo vệ nạn nhân

Quy trình xử lý vụ việc bạo lực gia đình hiện hành còn phụ thuộc nhiều vào đơn yêu cầu của nạn nhân. Quy định này tạo áp lực nặng nề cho người bị bạo hành khi đang trong tình trạng khủng hoảng tâm lý hoặc bị đe dọa trực tiếp. Nạn nhân gặp khó khăn khi thu thập chứng cứ chứng minh hành vi bạo lực tinh thần hay bạo lực kinh tế. Cơ chế phối hợp giữa công an xã, Ủy ban nhân dân và các tổ chức đoàn thể cơ sở đôi lúc thiếu tính kịp thời. Việc thiếu vắng các trung tâm tạm lánh an toàn đạt chuẩn tại cấp huyện, xã cũng khiến biện pháp bảo vệ khẩn cấp chưa phát huy tối đa hiệu quả.

III. Giải pháp bảo đảm quyền của nạn nhân bạo lực gia đình

Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp căn cơ. Trước hết, pháp luật cần hoàn thiện cơ chế tiếp nhận tin báo và can thiệp khẩn cấp mà không nhất thiết phải chờ đơn yêu cầu của nạn nhân trong các trường hợp nguy cấp. Cơ quan chức năng cần đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nạn nhân tiếp cận dịch vụ pháp lý và y tế. Việc mở rộng mạng lưới các trung tâm tạm lánh tin cậy tại cộng đồng là nhiệm vụ then chốt giúp bảo vệ tính mạng nạn nhân kịp thời. Đội ngũ cán bộ tư pháp, công an cơ sở và hòa giải viên cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tham vấn tâm lý nhạy cảm giới. Ngoài ra, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật sẽ nâng cao nhận thức cộng đồng, xóa bỏ định kiến xã hội, giúp nạn nhân nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ hợp pháp để dũng cảm lên tiếng bảo vệ chính mình.

3.1. Hoàn thiện quy trình tiếp nhận và xử lý tin báo bạo lực

Cần xây dựng đường dây nóng quốc gia và hệ thống tiếp nhận tin báo bạo lực đa kênh, hoạt động 24/7. Quy chế phối hợp liên ngành giữa lực lượng công an, cơ quan y tế và chính quyền địa phương phải được quy chuẩn hóa bằng văn bản hướng dẫn chi tiết. Lực lượng chức năng cần chủ động áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc tạm thời ngay khi phát hiện nguy cơ bạo lực tái diễn mà không chờ nạn nhân làm đơn đề nghị. Thủ tục thụ lý và xác minh thông tin phải được bảo mật nghiêm ngặt nhằm tránh việc người có hành vi bạo lực tiếp tục đe dọa, trả thù nạn nhân hoặc thân nhân.

3.2. Mở rộng mạng lưới hỗ trợ y tế tâm lý và pháp lý cơ sở

Chính quyền địa phương cần đầu tư nguồn lực phát triển các địa chỉ tin cậy và nhà tạm lánh an toàn tại cộng đồng. Mạng lưới này phải cung cấp đầy đủ dịch vụ y tế ban đầu, tư vấn tâm lý chuyên sâu và trợ giúp pháp lý miễn phí cho nạn nhân bạo lực gia đình. Cần thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức xã hội, hiệp hội phụ nữ và các đoàn luật sư trong việc đồng hành cùng nạn nhân suốt quá trình tố tụng. Việc hỗ trợ kinh tế, đào tạo nghề và tạo việc làm cho nạn nhân cũng là giải pháp căn bản giúp họ thoát khỏi sự phụ thuộc vào người gây bạo lực.

IV. Ứng dụng kết quả khóa luận tốt nghiệp luật học vào thực tiễn

Khóa luận tốt nghiệp luật học về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình mang lại giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc. Đề tài hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và đánh giá khách quan việc thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu pháp luật chuyên ngành. Các đề xuất hoàn thiện cơ chế can thiệp khẩn cấp, bảo mật thông tin và đơn giản hóa thủ tục tiếp cận bảo vệ có thể được cơ quan lập pháp tham khảo khi ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật. Đối với các cơ quan tư pháp và chính quyền cơ sở, khóa luận gợi mở quy trình tiếp nhận và xử lý vụ việc bảo đảm tính nhân văn, nhạy cảm giới. Việc áp dụng đúng đắn các quy định pháp luật không chỉ bảo vệ quyền con người của nạn nhân mà còn góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, giữ vững trật tự an toàn xã hội bền vững.

4.1. Giá trị tham khảo cho nghiên cứu và đào tạo ngành luật

Khóa luận đóng góp nguồn tư liệu học thuật phong phú cho bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình. Các phân tích chi tiết về quyền yêu cầu cấm tiếp xúc, quyền được bố trí nơi tạm lánh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ giúp sinh viên luật nắm vững kỹ năng xử lý tình huống thực tế. Công trình còn là nguồn tham khảo giá trị cho các khóa đào tạo thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư và trợ giúp viên pháp lý trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình.

4.2. Khả năng vận dụng vào hoạt động trợ giúp pháp lý cơ sở

Những giải pháp nêu trong khóa luận có thể chuyển hóa thành cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp - hộ tịch và tổ chức đoàn thể địa phương. Quy trình nhận diện nạn nhân, tư vấn pháp lý ban đầu và kết nối dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp giúp cán bộ cơ sở xử lý vụ việc nhanh chóng, đúng quy định pháp luật. Việc áp dụng mô hình trợ giúp thân thiện giúp củng cố niềm tin của nạn nhân vào công lý và thúc đẩy họ tích cực tìm kiếm sự bảo vệ hợp pháp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình theo luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CUA LUAT PHÒNG, CHONG BAO LUC GIA ĐÌNH NAM 2022 VE QUYEN VÀ NGHĨA VỤ CUA NAN NHAN BAO LUC GIA DINH 1. Khái quát về nạn nhân bạo lực gia đình 1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của bạo lực gia đình a.

Khái niém bao lực gia đình Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thé chất, quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng mà gây ra hay làm tăng kha năng gây ra tốn thương, tử vong, tồn hại về mặt tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát. Theo Từ dién Tiếng Việt, bạo lực là sức mạnh dùng dé trấn áp, lật đỗ. Nó có thể là bạo lực chính trị, bạo lực vũ trang, trên phạm vi toàn xã hội, giữa các quốc gia, trên lãnh thổ một đất nước, nó có thé là bạo lực gây thương tích, tổn thương về kinh tế, thể chất hay tinh thần của người này cho người khác trong các nhóm xã hội hay gia đình. Theo khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.

Gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thông, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội!. Bạo lực gia đình theo cách hiểu của Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc trong Luật mẫu về bạo lực gia đình tháng 02/1996 là: ““Tất cả các hành vi lạm dụng thê chất, tỉnh thần, tình dục dựa trên cơ sở giới của một thành viên gia đình đối với một người phụ nữ trong gia đình, từ hành vi đánh đập giản đơn đến gây thương tích nặng, bắt cóc, đe dọa, dọa dẫm, cưỡng bức, gây roi, lang nhuc bang lời nói, dùng vũ lực để vào nhà hoặc vào nhà trái pháp luật, phóng hỏa, hủy hoại tài sản, bạo lực tình dục, hiếp dâm 1 Nguyễn Van Cừ (2022), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Tư Pháp, tr. 6 trong hôn nhân, bạo lực liên quan đến thách cưới hoặc hồi môn, cắt bộ phận sinh dục, bạo lực liên quan đến bóc lột mại dâm, bạo lực đối với người giúp việc gia đình và việc thực hiện tất cả những việc nói trên đều được coi là bạo lực gia đình”. Trên cơ sở đó, nhiều quốc gia đã cụ thể hóa quan niệm về bạo lực gia đình theo hướng phù hợp với điều kiện, truyền thống, văn hóa.

của mỗi quốc gia và từ đó xác định phạm vi điều chỉnh bạo lực gia đình chính là một hình thức của bạo lực xã hội, điễn ra trong phạm vi gia đình. Điều 1 Luật xóa bỏ bạo hành gia đình của Indonesia quy định: “Bạo hành gia đình là bất kỳ hành động nào chống lại bất kỳ ai đặc biệt là phụ nữ, dẫn đến sự đau đớn về mặt thể xác, tình dục, tâm lý và/hoặc sự thờ ơ đối với gia đình bao gồm ca sự đe doa sẽ thực hiện hành động, áp đặt hoặc tước đoạt tự do theo cách thức vi phạm Luật này trong phạm vi gia đình”. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp liên quan đến phòng, chống bao lực gia đình: Hiến pháp năm 2013; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật Dân sự: Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh về Người cao tuổi; Pháp lệnh về Người tàn tat; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Đặc biệt, với việc thông qua Luật Phòng, chống bao lực gia đình theo tinh thần của luật mẫu về phòng, chống bạo lực gia đình của Liên hiệp quốc năm 1996 là một bước tiễn tích cực.

Đây là cột mốc quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tiếp tục hoàn thiện hệ thông pháp luật bảo đảm các quyền con người trong đó có quyền của nạn nhân bạo lực gia đình ở Việt Nam. Tại khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, bạo lực gia đình được định nghĩa là hành vi cổ ý của thành viên gia đình gây tốn hại hoặc có khả nắng gây tốn hại về thé chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình. Nhiều người nghĩ răng, bạo lực gia đình chỉ áp dụng với các thành viên gia đình hiện tai của nhau hoặc giữa những người đang có quan hệ hôn nhân và gia đình mà không áp đụng với những người đã ly hôn, chung sống với nhau như vợ chồng, người đã từng là cha mẹ nuôi, con nuôi. Tuy nhiên, đây là mối quan hệ khá đặc thù, dễ có tiếp xúc trong cuộc sống, thậm chí còn là các mỗi quan hệ thường xuyên nảy sinh xung đột, bạo lực.

Thực tế cho thấy, hiện nay có rất nhiều vụ bạo lực liên quan đên các thành viên gia đình của người đã ly hôn, người sông chung với nhau như vợ chồng; thậm chí là giữa thành viên của người đã ly hôn hoặc sống chung với nhau như vợ chồng. Do đó, khoản 2 Điều 3 Luật Phòng chống bạo lực gia đình đã bổ sung thêm một số đối tượng cũng áp dụng các hành vi bị coi là bạo lực gia đình gồm: “Hành vi quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện giữa người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng: người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng: người đã từng có quan hệ cha me nuôi và con nuôi với nhau cũng được xác định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ.” Hiện nay, quy định này chỉ áp dụng với “thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng”2. Phân loại hành vi bao lực gia đình Luật ly hôn của Canada (được sửa đổi năm 2021) xác định những hành vi sau đây là “bạo lực gia đình”: (i) Lam dung thé chất, bao gồm cả việc cưỡng bức, giam giữ nhưng không bao gồm việc sử dụng vũ lực hợp lý để bảo vệ bản thân hoặc người khác; (ii) Lam dung tinh duc; (iii) De dọa giết hoặc gây tốn hại thân thé cho bất kỳ người nào; (iv) Quay rối, bao gồm cả rình rap; (v) Không cung cấp những thứ cần thiết cho cuộc sống gia đình; (vi) Lam dụng tâm lý; (vii) Lam dụng tài chính; (viii) De doa giết hoặc de dọa lam hại động vật hoặc làm hư hong tai san; (ix) Giét hại hoặc làm hại động vật hoặc phá hoại tài sản. Nhìn chung, cách tiếp cận của Canada trong việc xác định hành vi bạo lực gia đình khá toàn diện và phản ánh đúng thực tế.

Nhiều quốc gia trên thé giới cũng đã áp dụng cách xác định tương tự đối với hành vi bạo lực gia đình. Tại Pháp, Bộ luật hình sự quy định những hành vi nổi bật có thể được xác định là tội phạm bạo lực gia đình gồm giết người (Điều 221-4), tra tấn và hành động đã man (Điều 222-3), hành vi bạo lực gây chết người ngoài ý muốn (Điều 222-8), hành vi bạo lực gây thương tích hoặc thương tật vĩnh viễn (Điều 222-10), hành vi bạo lực gây mat khả năng lao động từ 8 ngày đến mất kha năng lao động vĩnh viễn (Điều 222-11, 222-12), đe dọa phạm tội (Điều 222-17),. Ngoài ra, hiếp đâm, quấy rối tinh dục, quấy rỗi tinh thần cũng là những hành vi được hình sự hóa để trở thành “PIT (2023), “Luật Phong, chéng bao lực gia đỉnh 2022: 10 điểm mới từ 01/7/2023”, Liên đoàn lao động thành pho Hải Phong, lttps://congdoanhaiphong.vn/tin-tuc-su-kien/danh-muc-trong/luat-phong-chong-bao- luc-gia-dinh-2022-10-diem-moi-tu-01-7-2023-5101 html truy cập ngày 02/01/2025 một dạng thức bao lực gia đình thông qua Luật 2006-399 về phòng ngừa và tran áp bạo lực gia đình năm 2006. Ngoài ra, cơ quan dịch vụ cộng đồng tại Pháp cũng xác định nạn nhân của bạo lực gia đình có thể phải chịu những hành vi cụ thể sau đây: “Vi dụ về bạo lực thân thé và tình dục bao gồm: bị tat, bi đấm, bị trói bằng thắt lung hoặc bằng cách khác, bị giật tóc hoặc bị đấy, bị ép quan hệ tình dục.

Ví dụ về bao lực tâm lý gồm: bị hạ nhục hoặc xúc phạm, lăng mạ ở nơi riêng tư hay công cộng, de doa tinh thần. Ví đụ về bạo lực kinh tế bao gồm: toàn quyền kiểm soát tài sản của vợ/chồng và sử dụng chúng, tước đoạt nguồn lực tài chính của thành viên bị phụ thuộc trong nhà”. Luật liên bang cũng như hầu hết luật riêng của các bang và vùng lãnh thổ tại Úc đều liệt kê và đề cập trực tiếp đến những hành vi bạo lực gia đình, tập trung vào ba nhóm chính là lạm dụng thể chất hoặc tình dục, lạm dụng về mặt cảm xúc hoặc tâm lý, lạm dụng về mặt kinh tế. Các hành vi được thực hiện với mục đích chính là thâu tóm quyền lực về phía người gây ra bạo lực gia đình, trong đó được đề cập đến nhiều nhất là các hành vi: gây thương tích hoặc đe dọa gây thương tích, cưỡng ép quan hệ tình dục, đe đọa giết hoặc gây thương tích cho đối tác, con cái hoặc người khác, đe dọa tự tử hoặc tự làm hại bản thân để khiến nipười trong gia đình sợ hãi, từ chối vô lý và không đồng thuận cho người khác tự kiểm soát tài chính cá nhân của mình, giám sát, theo đõi, tước đoạt bat hợp pháp quyền tự do của thành viên gia đình.

Ở Việt Nam, Luật Phòng, chéng bạo lực gia đình năm 2022 đã liệt kê 16 dang hành vi bạo lực gia đình tại khoản 1 Điều 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ