Khóa luận: Quyền xác định cha mẹ con của cá nhân - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích quyền được xác định cha mẹ con của cá nhân theo quy định pháp luật hiện hành, thực trạng áp dụng và giải pháp.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quyền được xác định cha mẹ con theo pháp luật

Quyền được xác định cha mẹ con là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân theo quy định pháp luật. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định chi tiết vấn đề này tại Chương V. Mối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con cái tạo cơ sở xác lập toàn bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý. Các quy định pháp luật hiện hành bảo đảm quyền nhân thân, quyền tài sản và danh dự của các bên liên quan. Hiện nay, hiện tượng sống thử và sinh con ngoài giá thú ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội. Trẻ em sinh ra cần được xác định nguồn gốc cha mẹ rõ ràng nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện. Việc xác định cha mẹ con có thể thực hiện thông qua thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân hoặc thủ tục tư pháp tại Tòa án nhân dân. Khi không có tranh chấp, cơ quan hộ tịch sẽ đăng ký nhận cha mẹ con theo quy định. Trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc nghi ngờ huyết thống, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Khóa luận nghiên cứu sâu sắc các quy định này để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa quyền xác định cha mẹ con

Quyền xác định cha mẹ con là quyền yêu cầu cơ quan nhà nước thừa nhận hoặc không thừa nhận quan hệ huyết thống giữa các chủ thể. Quyền này phát sinh dựa trên sự kiện sinh đẻ tự nhiên hoặc sự kiện nhận con nuôi theo quy định pháp luật. Ý nghĩa cốt lõi của quyền thể hiện ở việc bảo vệ quyền trẻ em, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và quyền thừa kế di sản. Mối quan hệ gia đình được củng cố vững chắc khi nguồn gốc huyết thống được xác minh minh bạch. Mỗi cá nhân được hưởng đầy đủ các quyền về y tế, học tập và đại diện hợp pháp từ cha mẹ. Xã hội duy trì trật tự pháp lý và chuẩn mực đạo đức truyền thống qua việc xác lập rõ trách nhiệm của đấng sinh thành đối với con chưa thành niên.

1.2. Căn cứ pháp lý xác định con chung trong hôn nhân

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thiết lập nguyên tắc suy đoán pháp lý quan trọng để xác định con chung. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó được coi là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm dứt cũng được suy đoán là con chung. Trường hợp con sinh trước ngày đăng ký kết hôn và được cả hai bên thừa nhận cũng được pháp luật công nhận là con chung. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trước những biến cố gia đình. Cơ chế suy đoán giúp giảm bớt gánh nặng chứng minh nguồn gốc con cái trong quan hệ hôn nhân hợp pháp.

II. Thực trạng pháp luật về quyền xác định cha mẹ con hiện nay

Thực tiễn áp dụng các quy định về xác định cha mẹ con hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập phức tạp. Sự phát triển vượt bậc của y học hiện đại đã tạo ra kỹ thuật giám định ADN với độ chính xác tuyệt đối. Tuy nhiên, việc áp dụng chứng cứ ADN trong giải quyết tranh chấp hộ tịch và hôn nhân gia đình còn thiếu các văn bản hướng dẫn thống nhất. Nhiều trường hợp người chồng phát hiện con không cùng huyết thống qua xét nghiệm ADN nhưng gặp rào cản lớn khi yêu cầu Tòa án hủy bỏ quan hệ cha con. Thời hiệu yêu cầu bác bỏ quan hệ cha con chưa được quy định rõ ràng, gây lúng túng cho cơ quan xét xử. Tranh chấp con ngoài giá thú và các trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng phát sinh nhiều lỗ hổng pháp lý nan giải. Việc một bên cố tình từ chối giám định gen gây trở ngại lớn cho quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án. Cơ quan hộ tịch cấp xã còn lúng túng khi xử lý hồ sơ có yếu tố nước ngoài hoặc hồ sơ có tranh chấp ngầm. Những bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền nhân thân thiêng liêng của đứa trẻ.

2.1. Xung đột giữa suy đoán pháp lý và chứng cứ khoa học

Nguyên tắc suy đoán con chung trong thời kỳ hôn nhân đôi khi mâu thuẫn trực tiếp với chứng cứ xét nghiệm ADN. Khi người chồng cung cấp kết quả xét nghiệm gen chứng minh không cùng huyết thống, Tòa án thụ lý tranh chấp xác định con cho cha. Thủ tục tố tụng đòi hỏi đương sự phải nộp chứng cứ hợp pháp từ cơ quan giám định có thẩm quyền. Nhiều trường hợp đương sự lợi dụng quy định suy đoán để che giấu sự thật hoặc từ chối hợp tác giám định. Việc thiếu cơ chế cưỡng chế lấy mẫu giám định ADN tạo ra bế tắc trong quá trình giải quyết vụ án. Quyền được biết nguồn gốc huyết thống thật sự của đứa trẻ vì thế bị xâm phạm nghiêm trọng.

2.2. Vướng mắc trong thủ tục đăng ký hộ tịch nhận cha con

Thủ tục đăng ký nhận cha mẹ con tại Ủy ban nhân dân cấp xã đòi hỏi văn bản chứng minh quan hệ huyết thống rõ ràng. Thông tư của Bộ Tư pháp cho phép sử dụng giấy xét nghiệm ADN của các tổ chức có thẩm quyền. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đánh giá chứng cứ ADN tại cấp cơ sở vẫn chưa thực sự đồng bộ và thống nhất. Một số cán bộ hộ tịch áp dụng quy định máy móc, dẫn đến tình trạng chậm trễ cấp giấy khai sinh cho trẻ em. Trường hợp cha mẹ chưa đủ tuổi kết hôn hoặc không liên lạc được với người mẹ tạo ra rào cản hành chính lớn. Hậu quả là nhiều trẻ em bị chậm trễ trong việc tiếp cận các quyền lợi về y tế và giáo dục cơ bản.

III. Giải pháp hoàn thiện quyền được xác định cha mẹ con cá nhân

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền xác định cha mẹ con là nhiệm vụ cấp bách của cải cách tư pháp hiện nay. Cơ quan lập pháp cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về giá trị chứng minh của kết luận giám định ADN. Cần bổ sung quy định xử lý nghiêm đối với trường hợp một bên đương sự cố tình từ chối thực hiện giám định huyết thống theo yêu cầu của Tòa án. Việc quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu không công nhận cha con cần được luật hóa chặt chẽ nhằm bảo đảm sự ổn định của quan hệ gia đình. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong việc liên thông dữ liệu hộ tịch quốc gia và dữ liệu tư pháp giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đội ngũ cán bộ hộ tịch và thẩm phán cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng giải quyết các tranh chấp hôn nhân gia đình. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật giúp người dân nâng cao nhận thức về quyền nhân thân và trách nhiệm làm cha mẹ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành sẽ bảo đảm tốt nhất quyền lợi chính đáng cho trẻ em.

3.1. Hoàn thiện quy định tố tụng và chứng cứ giám định ADN

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể việc áp dụng Điều 88 và Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần quy định rõ chế tài đối với hành vi trốn tránh giám định huyết thống mà không có lý do chính đáng. Tòa án có thể căn cứ vào các tài liệu gián tiếp và thái độ bất hợp tác để đưa ra phán quyết bảo vệ quyền lợi của đương sự. Danh sách các tổ chức giám định gen đủ điều kiện pháp lý cần được công khai minh bạch. Toàn bộ quy trình thu mẫu, bảo quản và phân tích mẫu gen phải tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực tố tụng tư pháp.

3.2. Cải cách thủ tục hành chính và số hóa cơ sở dữ liệu hộ tịch

Cải cách thủ tục nhận cha mẹ con theo hướng đơn giản hóa hồ sơ và rút ngắn thời gian xử lý là mục tiêu trọng tâm. Cổng dịch vụ công quốc gia cần tích hợp hoàn chỉnh quy trình tiếp nhận hồ sơ đăng ký nhận cha con trực tuyến. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phải đồng bộ liên tục với dữ liệu hộ tịch điện tử để tra cứu thông tin nhanh chóng. Việc ứng dụng công nghệ giúp ngăn chặn hiệu quả tình trạng làm giả giấy tờ và đăng ký khai sinh trùng lặp. Đẩy mạnh liên thông giữa ngành y tế, công an và tư pháp sẽ bảo đảm quyền khai sinh đúng hạn cho mọi trẻ em.

IV. Ý nghĩa thực tiễn khóa luận luật học về quyền cha mẹ con

Khóa luận tốt nghiệp luật học về quyền được xác định cha mẹ con đóng góp giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc. Đề tài hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hôn nhân gia đình tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp góc nhìn đa chiều, khoa học cho sinh viên luật, luật sư và cán bộ tư pháp hộ tịch. Việc làm rõ các vướng mắc trong xét xử giúp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật tại Tòa án các cấp. Đề tài khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền nhân thân và quyền trẻ em trong bối cảnh xã hội phát triển. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nêu trong khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp. Nghiên cứu thúc đẩy việc kết hợp hài hòa giữa chuẩn mực pháp lý truyền thống và tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Đây là cơ sở quan trọng giúp xây dựng môi trường pháp lý công bằng, nhân văn và bảo vệ sự bền vững của gia đình.

4.1. Ứng dụng nghiên cứu trong hoạt động tư vấn pháp lý

Nội dung nghiên cứu của khóa luận hỗ trợ đắc lực cho đội ngũ luật sư trong hoạt động tư vấn các vụ việc tranh chấp huyết thống. Luật sư có thể nắm vững trình tự thu thập chứng cứ, yêu cầu giám định ADN và soạn thảo hồ sơ khởi kiện chuẩn xác. Khách hàng được định hướng lựa chọn phương thức giải quyết tối ưu qua con đường hành chính hoặc tố tụng tư pháp. Việc nắm chắc căn cứ pháp lý giúp bảo vệ trọn vẹn quyền được nuôi dưỡng và quyền thừa kế di sản của thân chủ. Hoạt động tư vấn chuyên nghiệp giúp giảm thiểu tối đa thời gian, chi phí và tổn thương tâm lý cho các bên.

4.2. Giá trị tham khảo cho công tác lập pháp và nghiên cứu

Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cao cho các cơ quan nghiên cứu chính sách pháp luật hôn nhân và gia đình. Các đề xuất hoàn thiện quy phạm pháp luật phản ánh sát sao nhu cầu thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội hiện đại. Sinh viên và học viên cao học ngành luật có thể tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang các chủ đề mang thai hộ hoặc kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Công trình đóng góp tích cực vào kho tàng nghiên cứu luật học về quyền con người và quyền bình đẳng giới. Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn tạo nền tảng vững chắc cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học quyền được xác định cha mẹ con của cá nhân theo pháp luật hiện hành

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 khóa luận đã phân tích làm 16 một số vấn đề lý luận về quyền được xác định cha mẹ con của cá nhân như về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các yêu tố ảnh hưởng đến quy định của pháp luật về quyền xác định cha mẹ con. CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUYEN ĐƯỢC XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON CUA CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIEN HANH 2. Quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con của cá nhân Quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con của cá nhân được thực hiện bởi hai nhóm người có quyền theo qui định của pháp luật là (i) Giữa các chủ thé trong quan hệ cha con, mẹ, con; (ii) Các chủ thé khác có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho một người trong một số trường hợp nhất định mà pháp luật qui định. Thứ nhất, quyên yêu cầu xác định cha, mẹ, con của các chủ thể trong quan hệ cha con, me va con Theo quy dinh tai Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc xác định cha, mẹ, con là quyền nhân thân quan trọng, không chỉ liên quan đến quan hệ huyết thống mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi pháp lý của các bên.

Cụ thể, khoản 1 Điều 102 quy định rang cha, mẹ hoặc con có quyên yêu cầu xác định cha, mẹ, con. Quy định này thể hiện nguyên tắc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân, đảm bảo rằng mỗi người đều có quyền xác định hoặc yêu cầu xác định quan hệ huyết thống của mình, từ đó làm cơ sở cho việc hưởng các quyền lợi về nuôi đưỡng, cấp dưỡng, giáo dục, thừa kế. Khoản 2 Điều 102 tiếp tục nhấn mạnh rằng con có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ của mình mà không bị hạn chế về thời gian, điều này phù hợp với nguyên tắc tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời ky hôn nhân được suy đoán là con chung của vo chồng. Trường hợp có tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con, cá nhân có liên quan có thé yêu cầu co quan có thâm quyền xác định cha, mẹ dựa trên chứng cứ như kết quả giám định ADN, lời khai, tài liệu chứng minh khác.

Đồng thời, Điều 90 của 20 Luật này còn khẳng định quyền của cha, mẹ trong việc nhận con, ngay cả khi con đã thành niên, trừ trường hợp con đã được người khác nhận làm con nuôi một cách hợp pháp. Điểm a khoản 3 Điều 102 tiếp tục mở rộng phạm vi những người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con, bao gồm cả người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mat năng lực hành vi dan sự. Quy định nay nhằm bảo vệ nhóm đối tượng yếu thế, những người không thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu, dam bảo rằng họ vẫn có thé được xác định mối quan hệ huyết thống hợp pháp với cha, mẹ của mình. Điều này phù hợp với Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trong đó khang định rằng cha, mẹ có quyền nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ trong việc nhận con dé đảm bảo quyền lợi cho con.

Ngoài ra, Điều 92 cũng quy định cụ thể về trình tu, thủ tục và chứng cứ để xác định cha, mẹ, con, trong đó việc sử đụng kết quả giám định ADN là một trong những biện pháp khoa học quan trọng nhằm xác định chính xác quan hệ huyết thông. Thư hai, quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con của các chủ thể khác Theo quy định tại khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân va Gia đình nam 2014, ngoài chính bản thân người con hoặc cha, mẹ có quyền yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con, pháp luật còn trao quyền này cho một số chủ thé đặc biệt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người chưa đủ năng lực hành vi dân sự hoặc không thé tự mình thực hiện quyền yêu cầu. Cụ thể, người giám hộ của con chưa thành niên hoặc người giám hộ của con đã thành niên nhưng mat năng lực hành vi dan sự có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con. Bởi lẽ người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ, bao gồm cả quyền được nhận cha, mẹ hợp pháp, từ đó đảm bảo quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng và thừa kế của người con.

Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức quản lý trẻ em theo quy định của pháp luật cũng có quyền yêu cầu xác định cha, me, con đối với trẻ chưa xác định được cha, mẹ, nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em bị bỏ rơi hoặc trẻ đang được chăm sóc tại các trung tâm bảo trợ xã hội, giúp các em có danh phận hợp pháp và đảm bảo các quyền lợi về nuôi dưỡng, giáo dục. Ngoài ra, pháp luật còn mở rộng phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, cơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo trong những trường hợp đặc biệt, nếu không có cha, mẹ, người giám hộ hoặc 21 cơ quan bao trợ xã hội đứng ra yêu cau, thì những cá nhân có liên quan, chang hạn như ông, bà hoặc người thân thích, cũng có thê thực hiện quyền này để bảo vệ quyền lợi của người con. Quy định này phù hợp với nguyên tắc bảo vệ quyên trẻ em, dam bao sự 6n định trong quan hệ gia đình, đồng thời giúp giải quyết các tranh chấp liên quan đến xác định cha, mẹ, con một cách minh bạch và công băng. Bên cạnh đó, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rằng: “Trong trường hợp có yêu câu về việc xác định cha, mẹ, con mà "người có yêu câu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết”.

Quy định này đã cho thấy pháp luật Việt Nam đã mở rộng hơn diện những chủ thê được quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con. Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu trực hệ và có họ trong phạm vi ba đời”. Tác giả cho răng việc quy định như vậy là quá rộng, cần có hướng dẫn chỉ tiết và theo một thứ tự nhất định để đám bảo tính riêng tư của mối quan hệ này. Đối với trường hợp này, việc xác định người thân thích sẽ thực hiện yêu cầu tiếp trong vụ án hay khởi kiện lại từ đầu vẫn đang là vẫn đề gây tranh cãi hiện nay.

Theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, một trong những căn cứ dé tòa án đình chỉ giải quyết vụ án 1: “Nguyên đơn hoặc bị don là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế” (điềm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật tô tụng dân sự năm 2015). Về lý luận, quyền xác định cha, mẹ, con là quyền nhân thân gắn liền với chủ thể không thê chuyển giao cho người khác, tức là quyền này không được kế thừa quyén. Do vậy, trong trường hợp này phải đình chi giải quyết vụ án. Sau đó, những người thân thích của người này sẽ khởi kiện việc xác định cha, me, con cho người đã chết theo một vụ án mới.

Tuy nhiên theo ý kiến của tác gia thì nên coi đây là một trường hợp ngoại lệ, khi người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết thì người thân thích sẽ tiếp tục tham gia tố tụng trong vụ án đó luôn cho thuận lợi và nhanh chóng. Quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là nhằm giản tiện và tiết kiệm chi phí cũng như thời gian cho đương sự và Tòa án, do đó, đây phải coi là một trường hợp ngoại lệ dé cho người thân thích của người đã từng có yêu cầu nhưng bị chết được tiếp tục tham gia tố tụng trong vụ án đó mà không nên đình chỉ rôi lại yêu câu khởi kiện thành một vụ án mới. Có thê thây quyên yêu câu xác 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 22 định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp là khá đầy đủ, cụ thể và rõ ràng. Ở đây phải thấy rằng, quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con trước hết là quyền của chính các đương sự trong mối quan hệ đó vì đây là quyền gắn liền với nhân thân của các chủ thể, chỉ khi họ không thể thực hiện được thì pháp luật mới quy định các chủ thể khác có liên quan nhất định có quyền yêu cầu.

Căn cứ pháp lý xác định cha, mẹ, con trong các trường hợp 2. Căn cứ pháp lý xúc định cha, mẹ, con trong trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp pháp Điều 88 Luật Hôn nhân va gia đình năm 2014 quy định về xác định cha, mẹ, con như sau: “I. Con sinh ra trong thời ky hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chẳng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kế từ thời diém cham dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chẳng. Trong trường hợp cha, me không thừa nhận con thì phải có chứng cw và phải được Tòa an xác định”. Quy định này được coi là nguyên tắc suy đoán pháp lý trong việc xác định cha, me, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp. Thời kỳ hôn nhân của cha mẹ là can cứ quan trọng nhất để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này.

Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp thì về nguyên tắc, người con do mẹ có thai hoặc sinh ra trong thời kỳ hôn nhân có quan hệ cùng huyết thống với người mẹ và người cha là chồng của người mẹ. Sau khi kết hôn với nhau, vợ chồng sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời cùng nhau thực hiện chức năng và nhiệm vụ của gia đình. Một trong số đó là chức năng sinh đẻ. Chính vì vậy trong thời kỳ hôn nhân, người phụ nữ có thai và sinh con là một hệ quả có tính tất yếu.

Trong thời kỳ hôn nhân, người vợ mang thai hoặc sinh con thì người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ