Khóa luận: Tội xâm phạm chỗ ở của người khác trong BLHS 2015 - ĐH Luật Hà Nội

Nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp luật học về tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Bộ luật Hình sự 2015, phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khóa luận tội xâm phạm chỗ ở trong Bộ luật Hình sự 2015

Khóa luận tốt nghiệp luật học về tội xâm phạm chỗ ở của người khác trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật. Đề tài làm rõ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở như một quyền cơ bản của con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa các quy định truyền thống và bổ sung nhiều dấu hiệu pháp lý mới. Nghiên cứu xác định khái niệm chỗ ở bao gồm nơi cư trú hợp pháp của cá nhân hoặc hộ gia đình. Tội danh này thuộc nhóm các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân. Khóa luận phân tích quá trình lập pháp từ năm 1945 đến nay. Từng giai đoạn lịch sử phản ánh sự phát triển trong nhận thức lập pháp hình sự. Việc hoàn thiện quy định thể hiện cam kết của Nhà nước trong bảo vệ quyền cơ bản. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn học thuật chuẩn mực cho sinh viên luật và học viên cao học. Nội dung khóa luận đóng góp nguồn tư liệu quý báu phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành luật hình sự và tư pháp hình sự hiện đại.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của quyền bất khả xâm phạm chỗ ở

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở là quyền hiến định cơ bản của công dân. Điều 22 Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi công dân đều có quyền có nơi ở hợp pháp. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không có sự đồng ý. Việc khám xét chỗ ở chỉ được tiến hành theo quy định của luật định. Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể hóa quyền này tại Điều 158. Quy phạm bảo vệ không gian sinh hoạt riêng tư của cá nhân trước mọi sự xâm lấn trái phép. Bản chất pháp lý của tội danh nằm ở hành vi cố ý vi phạm trật tự quản lý hành chính và xâm hại quyền nhân thân. Khóa luận khẳng định việc bảo vệ chỗ ở góp phần ổn định an ninh xã hội.

1.2. Lịch sử lập pháp về tội xâm phạm chỗ ở trong luật hình sự Việt Nam

Pháp luật hình sự Việt Nam ghi nhận sự phát triển liên tục về bảo vệ chỗ ở. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1985 bảo vệ nơi ở qua các sắc lệnh hành chính. Bộ luật Hình sự năm 1985 lần đầu hệ thống hóa tội phạm này tại Điều 124. Bộ luật Hình sự năm 1999 mở rộng phạm vi áp dụng và tăng nặng chế tài xử phạt. Bộ luật Hình sự năm 2015 đánh dấu bước chuyển biến lập pháp quan trọng. Tên tội danh chuyển từ "chỗ ở của công dân" sang "chỗ ở của người khác". Sự thay đổi thuật ngữ tương thích hoàn toàn với các công ước nhân quyền quốc tế. Mọi cá nhân sinh sống hợp pháp tại Việt Nam đều được pháp luật bảo vệ bình đẳng.

II. Phân tích pháp lý tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo BLHS 2015

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định cụ thể bốn yếu tố cấu thành tội xâm phạm chỗ ở của người khác. Khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và quyền tự do thân thể. Mặt khách quan biểu hiện qua các hành vi khám xét trái phép, đuổi người khác khỏi chỗ ở hoặc chiếm giữ nơi ở bất hợp pháp. Chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Mặt chủ quan đòi hỏi lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi trái luật nhưng vẫn thực hiện. Thực tiễn áp dụng phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định khái niệm chỗ ở. Tranh chấp nhà ở dân sự thường bị nhầm lẫn với hành vi hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn khi phân định ranh giới giữa tranh chấp hợp đồng thuê nhà và tội phạm chiếm giữ chỗ ở. Nhiều văn bản hướng dẫn thi hành chưa kịp thời cập nhật các tình huống phát sinh trong đời sống đô thị hiện đại.

2.1. Bốn yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 158 BLHS 2015

Cấu thành tội phạm Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015 gồm bốn yếu tố cơ bản. Về khách thể, tội phạm xâm hại quyền tự do cư trú và quyền bất khả xâm phạm chỗ ở. Về mặt khách quan, tội phạm có cấu thành hình thức. Hành vi chỉ cần thỏa mãn một trong các dấu hiệu: khám xét trái phép, đuổi người cư trú, chiếm giữ chỗ ở, hoặc xâm nhập trái pháp luật. Hậu quả vật chất không phải dấu hiệu bắt buộc để định tội. Về chủ thể, người phạm tội là cá nhân từ đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Về mặt chủ quan, tội phạm thực hiện với lỗi cố ý. Người thực hiện nhận thức hành vi là trái phép nhưng vẫn chủ động xâm nhập hoặc cản trở nạn nhân.

2.2. Vướng mắc và bất cập trong thực tiễn xét xử tội danh

Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều bất cập trong áp dụng quy định pháp luật. Khái niệm chỗ ở chưa được định nghĩa đồng bộ giữa Luật Nhà ở và Bộ luật Hình sự. Các địa điểm đặc thù như tàu thuyền, phòng trọ, ki-ốt kinh doanh kết hợp lưu trú gây tranh cãi khi định tội. Việc chứng minh hành vi "đuổi người khác ra khỏi chỗ ở" gặp trở ngại lớn về chứng cứ. Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự chưa thực sự ranh giới rõ ràng. Cơ quan tư pháp thường lúng túng khi xử lý các vụ việc siết nợ, đòi nhà cho thuê hoặc tranh chấp quyền sở hữu tài sản chung. Tình trạng này làm giảm hiệu quả răn đe tội phạm.

III. Giải pháp hoàn thiện tội xâm phạm chỗ ở trong Bộ luật Hình sự 2015

Việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015. Văn bản hướng dẫn cần làm rõ nội hàm thuật ngữ chỗ ở hợp pháp, bao gồm cả nơi cư trú tạm thời. Quy định cụ thể hành vi xâm nhập trái phép giúp cơ quan tố tụng tránh bỏ lọt tội phạm hoặc hình sự hóa quan hệ dân sự. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ Thẩm phán và Kiểm sát viên cần được chú trọng. Việc phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án giúp thu thập chứng cứ kịp thời, chính xác. Tăng cường tuyên truyền pháp luật nâng cao nhận thức của người dân về quyền bất khả xâm phạm chỗ ở. Đổi mới quy trình tiếp nhận tố giác tội phạm tại cơ sở giúp ngăn chặn hành vi xâm phạm ngay từ giai đoạn khởi phát.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và văn bản hướng dẫn

Cơ quan lập pháp cần sửa đổi, bổ sung điều luật nhằm khắc phục các khoảng trống pháp lý. Việc giải thích chi tiết các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 158 là yêu cầu cấp thiết. Cần cụ thể hóa hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi khám xét hoặc cưỡng chế. Quy định mức độ thiệt hại phi vật chất làm căn cứ lượng hình cần được chuẩn hóa. Nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cần đưa ra tiêu chí phân biệt rõ giữa vi phạm hợp đồng thuê nhà và tội chiếm giữ chỗ ở trái phép. Sự minh bạch về mặt văn bản quy phạm giúp bảo đảm tính thống nhất trong xét xử trên phạm vi toàn quốc.

3.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và công tác xét xử

Nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp là chìa khóa tháo gỡ vướng mắc trong thực tế. Các cơ quan tố tụng cần tổ chức tập huấn chuyên sâu về thu thập chứng cứ điện tử, hình ảnh hiện trường và lời khai nhân chứng. Hoạt động phối hợp chặt chẽ giữa công an phường, xã và kiểm sát viên giúp bảo vệ hiện trường tức thời. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi đòi nợ thuê, tự ý khóa cửa hoặc đuổi người thuê nhà bảo đảm tính răn đe. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý dân cư và dữ liệu nhà ở hỗ trợ xác minh quyền cư trú nhanh chóng, chính xác.

IV. Kết luận và giá trị ứng dụng của khóa luận tốt nghiệp luật học

Khóa luận tốt nghiệp về tội xâm phạm chỗ ở của người khác mang lại nhiều đóng góp thiết thực cho khoa học pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật. Nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện các lý luận cơ bản, phân tích sâu sắc các dấu hiệu pháp lý và chỉ rõ những bất cập trong thực tiễn áp dụng Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên luật, học viên cao học và cán bộ công tác trong các cơ quan tư pháp. Đề tài mở ra các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự. Việc áp dụng đúng các quy định không chỉ bảo vệ quyền cư trú hợp pháp của cá nhân mà còn củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khóa luận khẳng định tính đúng đắn của chủ trương cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay.

4.1. Giá trị học thuật đối với nghiên cứu khoa học luật hình sự

Công trình nghiên cứu làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người trong luật hình sự. Khóa luận cung cấp hệ thống phân tích logic từ khái niệm, đặc điểm pháp lý đến lịch sử lập pháp. Phương pháp tiếp cận kết hợp giữa lý thuyết và phân tích án lệ thực tế tạo nên góc nhìn đa chiều. Nguồn tài liệu tham khảo phong phú, trích dẫn chính xác các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Đây là cẩm nang hữu ích phục vụ viết khóa luận, tiểu luận và luận văn chuyên ngành luật hình sự.

4.2. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn tư pháp và xã hội

Các đề xuất trong khóa luận có tính ứng dụng cao trong hoạt động tố tụng hình sự. Kết quả nghiên cứu giúp Điều tra viên và Thẩm phán định danh tội phạm chuẩn xác, tránh oan sai. Về mặt xã hội, nội dung tài liệu hỗ trợ công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho cộng đồng. Người dân hiểu rõ quyền cư trú hợp pháp để tự bảo vệ chỗ ở và tránh các hành vi vi phạm pháp luật khi giải quyết mâu thuẫn dân sự. Đề tài đóng góp thiết thực vào việc giữ vững kỷ cương pháp luật và an ninh trật tự cơ sở.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học tội xâm phạm chỗ ở của người khác trong bộ luật hình sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Các quy định pháp luật được thẻ hiện trong các văn bản pháp luật liên quan đã tạo ra một hành lang pháp lý quan trọng dé bảo vệ quyền bat khả xâm phạm về chỗ ở của công dan. Đây không chỉ là một quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn là nguyên tắc quan trọng được thể hiện xuyên suốt trong các đạo luật khác nhau, đặc biệt là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những quy định này phan ánh quan điểm của Nhà nước ta về tội xâm phạm chỗ ở của người khác qua từng giai đoạn lịch sử, thé hiện sự phát triển trong tư duy lập pháp nhằm đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bé sung năm 2017) đã đánh dau một bước tiễn quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phát triển nền đân chủ và bảo vệ các quyền con người.

Các quy định trong Bộ luật này không chỉ giúp xử lý kiên quyết, triệt để mọi hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền tự đo về chỗ ở mà còn thiết lập một cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo quyền này được tôn trọng và thực thi trong thực tế. Việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền bất khả xâm phạm 18 về chỗ ở không chi nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân của công dân mà còn góp phan tăng cường an ninh trật tự xã hội, ngăn chặn những hành vi lạm dung quyền lực, xâm phạm quyền riêng tư và lợi ích chính đáng của người dân. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, giúp các cơ quan thực thi pháp luật có căn cứ rõ ràng dé phát hiện, xử lý và ngăn chặn những hành vi vi phạm liên quan đến quyền chỗ ở của công dân. Nhìn chung, sự phát triển của hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân phản ánh rõ nét sự cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, đề cao pháp quyền, và xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, nơi mọi công dân đều được sống và làm việc trong một môi trường pháp lý an toàn, minh bạch.

19 CHƯƠNG 2: TOI XÂM PHAM CHO Ở CUA NGƯỜI KHÁC THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 2. Quy định của BLHS năm 2015 về tội xâm phạm chỗ ở của người khác Xét về mặt cấu trúc, mỗi tội phạm đều được hình thành từ những yếu tố nhất định, tồn tại gắn kết với nhau nhưng vẫn có thể được nghiên cứu một cách độc lập. Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, tội phạm bao gồm bốn yếu tổ chính: chủ thé của tội phạm, khách thể của tội phạm, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Dù thuộc loại tội phạm nào hay mức độ nghiêm trọng ra sao, bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng phải hội tụ đầy đủ bốn yếu tố cau thành này.

Cụ thé: - Chủ thê của tội phạm: Là cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, phải đáp ứng các điều kiện nhất định như độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. - Mặt khách quan của tội phạm: Thể hiện qua hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi đó gây ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. - Mặt chủ quan của tội phạm: Bao gồm lỗi, động cơ, mục đích của người phạm tội, thể hiện trạng thái tâm lý của chú thé đối với hành vi đã thực hiện. - Khách thê của tội phạm: Là quan hệ xã hội bị xâm phạm, được pháp luật hình sự bảo vệ.

Trong bất kỳ tội phạm nào, hành vi phạm tội của chủ thể không chỉ là sự biểu hiện bên ngoài mà còn phản ánh quá trình điễn biến tâm lý bên trong. Đồng thời, hành vi phạm tội này luôn có đối tượng tác động cụ thé, gay thiét hai đến một quan hệ xã hội nhất định - đây chính là khách thể của tội phạm. Giống như các tội phạm khác, tội xâm phạm chỗ ở của người khác cũng được xác định dựa trên bốn yêu tố cầu thành: khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm. Ngoài ra, đối với tội danh này, pháp luật còn quy định về hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng nhằm đảm bảo tính nghiêm minh và phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Các dấu hiệu pháp lý hình sự a) Khách thé Khách thé của tội phạm được hiểu là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng bị tội phạm xâm hại. Những quan hệ xã hội này chính là đối tượng mà 20 luật hình sự hướng đến dé bảo vệ, nhằm duy tri trật tự xã hội và đảm bảo quyên lợi hợp pháp của cá nhân cũng như cộng đồng. Theo quy định tại Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bố sung năm 2017, không phải mọi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đều bi coi là tội phạm. Chi những hành vi có mức độ nguy hiểm đáng kể đối với xã hội và được xác định cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự mới bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Trong khoa học hình sự Việt Nam, khách thể của tội phạm được phân thành ba nhóm chính: - Khách thê chung: Là tông thể các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhằm đảm bảo sự 6n định của xã hội. - Khách thé loại: Là nhóm quan hệ xã hội cụ thé thuộc từng nhóm tội phạm riêng biệt (chang han: nhóm tội xâm phạm quyền tự do con người, nhóm tội xâm phạm tài sản, nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chinh. - Khách thé trực tiếp: Là quan hệ xã hội cụ thé bị hành vi phạm tội tac động va gây tốn hại trực tiếp. Trong trường hợp tội xâm phạm chỗ ở của người khác, khách thê bị xâm phạm chính là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công đân.

Đây là một quyền cơ bản của con người, được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 22 và cụ thể hóa trong các quy định khác của pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Tổ tụng Hình sự. Một số quy định liên quan có thé kế đến: Điều 8, Điều 140, Điều 141, Điều 143 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về trình tự, thú tục và điều kiện tiễn hành khám xét chỗ ở hợp pháp. Như vậy, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở không chỉ là một quyền cá nhân mà còn là nền tang quan trọng dam bảo tự do cá nhân va đời sống riêng tư. Việc xâm phạm chỗ ở của người khác không chí gây ảnh hưởng đến cá nhân bị xâm hại mà còn tác động tiêu cực đến trật tự xã hội và sự tôn trọng pháp luật.

Đối tượng tác động của tội xâm phạm chỗ ở của người khác là chỗ ở hợp pháp của công dân, bao gồm bat kỳ không gian cư trú nào mà công dân đang sinh sống hop pháp. Điều này có thể bao gồm: - Nơi cư tri thường xuyên (nhà riêng, chung cư, căn hộ. - Nơi cư trú tạm thời (phòng trọ, khách sạn, nhà thuê. 21 - Nơi đăng ký hộ khẩu hoặc tạm trú theo quy định của pháp luật.

- Nơi ở cố định hoặc di động (tàu thuyền, xe lưu trú. - Một phần không gian riêng trong căn hộ, nhà chung cư, hoặc một căn phòng riêng biệt. Dù là biệt thự sang trọng hay túp lều nhỏ, chỗ ở vẫn có vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân, vì đây là không gian sinh hoạt riêng tir, nơi con người cảm thấy an toàn, thư giãn và thực hiện các hoạt động cá nhân. Do đó, bất kỳ hành vi xâm phạm nào đến chỗ ở hợp pháp của công dân đều được xem là xâm phạm quyền tự do cá nhân, vi phạm nguyên tắc tôn trọng cuộc sống riêng tư đã được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.

Một ví dụ cụ thé về hành vi xâm phạm chỗ 6 là Bản án số 112/2020/HS-PT ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Ngày 15/9/2017, bị cáo Lê Thị Thanh Th yêu cầu bà Lê Thị Kim Ch phải rời khỏi nhà nhưng bà Ch không đồng ý và đã báo công an. Công an huyện DTr đã mời Lê Thị Thanh Th đến làm việc và yêu cầu đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, ngay sau đó, Lê Thị Thanh Th vẫn quay lại nhà của bà Ch và ra lệnh cho người làm công di chuyển toàn bộ đồ đạc của bà Ch ra ngoài, sau đó đưa đồ của mình vào trong nhà, khóa cửa lại và bỏ đi, nhằm ngăn cản bà Ch tiếp tục ở trong căn nhà này.

Căn cứ theo Điều 12 Luật Cư trú năm 2013 và Điều 5 Nghị định 31/2014/NĐ-CP, nơi cư trú của công dân là nơi họ thường sinh sống và có xác nhận của cơ quan công an địa phương. Trong trường hợp này, theo xác minh của cơ quan điều tra vào ngày 29/9/2017, bà Lê Thị Kim Ch đã sinh sống và đăng ký hộ khâu tại địa chỉ 21/3 TrH, xã HA, huyện ĐTr từ trước đến nay. Do đó, bà Ch có quyền hợp pháp đối với chỗ ở này, và hành vi của Lê Thị Thanh Th được xác định là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác. Theo Điều 22 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bat khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nêu không được người đó đồng ý.” Trong vụ án này, quyền sở hữu hợp pháp của căn nhà đang được Tòa án nhân dan huyện DTr xem xét giải quyết giữa các bên liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình 22 tranh chap, không một cá nhân hay tổ chức nào được quyền cưỡng chế tài san ngoài các cơ quan nhà nước có thâm quyền theo quy định của pháp luật. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị Thanh Th và nhóm người liên quan vào ngày 15/9/2017 và 12/12/2017 đã vi phạm Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đặc biệt là quy định về quyền bat khả xâm phạm chỗ ở của công dân. b) Mặt chủ quan của tội phạm Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật phản ánh trạng thái tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi vi phạm, bao gồm ba yếu tổ cơ bản: lỗi, động cơ và mục đích vi phạm pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ