Khóa luận hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật Việt Nam - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật Việt Nam. Phân tích căn cứ pháp lý, hậu quả và thực tiễn áp dụng chi tiết.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

Hủy bỏ hợp đồng là một chế định pháp lý quan trọng trong Bộ luật Dân sự 2015. Quy định này bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia giao dịch. Khi một bên vi phạm nghĩa vụ, bên bị vi phạm có quyền áp dụng biện pháp chế tài thích hợp. Hủy bỏ hợp đồng giúp giải phóng các bên khỏi sự ràng buộc pháp lý không còn mang lại lợi ích. Khác với việc tiếp tục duy trì quan hệ hợp đồng không hiệu quả, biện pháp này cho phép chấm dứt dứt điểm tranh chấp. Pháp luật Việt Nam quy định rõ các căn cứ, điều kiện và trình tự hủy bỏ hợp đồng nhằm tránh việc lạm dụng quyền. Quy chế này áp dụng cho cả hợp đồng dân sự lẫn hợp đồng thương mại. Cơ chế vận hành của việc hủy bỏ hợp đồng dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận và bảo đảm công bằng xã hội. Việc nghiên cứu toàn diện các cơ sở lý luận về hủy bỏ hợp đồng giúp nâng cao tính chuẩn xác trong áp dụng luật. Đây là nền tảng cốt lõi trong các đề tài nghiên cứu pháp lý chuyên sâu.

1.1. Khái niệm và đặc tính pháp lý của hủy bỏ hợp đồng

Theo Bộ luật Dân sự 2015, hủy bỏ hợp đồng là việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ hoặc do thỏa thuận. Biện pháp này mang ba đặc tính cơ bản. Thứ nhất, quyền hủy bỏ hợp đồng xuất phát từ ý chí đơn phương của bên bị vi phạm. Thứ hai, quyền này chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ pháp lý quy định hoặc thỏa thuận cụ thể. Thứ ba, mục đích chính là khôi phục tình trạng tài sản ban đầu và bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm. Hành vi hủy bỏ hợp đồng làm cho hợp đồng vô hiệu từ thời điểm giao kết. Điều này tạo nên sự khác biệt cơ bản so với các chế tài khác trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.

1.2. Phân biệt hủy bỏ với đơn phương chấm dứt và vô hiệu

Phân biệt hủy bỏ hợp đồng với các chế định tương tự là yêu cầu quan trọng trong nghiên cứu luật học. Về hậu quả pháp lý, hủy bỏ hợp đồng làm hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Trái lại, đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ làm chấm dứt hợp đồng từ thời điểm bên kia nhận thông báo. Các nghĩa vụ đã thực hiện trước đó trong đơn phương chấm dứt vẫn giữ nguyên giá trị. Đối với tuyên bố hợp đồng vô hiệu, lý do vô hiệu xuất phát từ khiếm khuyết ngay tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trong khi đó, căn cứ hủy bỏ hợp đồng phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ. Nhận diện chính xác ranh giới pháp lý giúp đương sự áp dụng đúng quyền bảo vệ.

II. Thực trạng quy định hủy bỏ hợp đồng tại pháp luật Việt Nam

Thực tiễn áp dụng quy định hủy bỏ hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015 bộc lộ nhiều điểm bất cập. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc xác định hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Bộ luật Dân sự hiện hành không gắn tiêu chí vi phạm nghiêm trọng với thiệt hại thực tế phát sinh. Trong khi đó, Luật Thương mại 2005 lại yêu cầu chứng minh yếu tố gây thiệt hại khi áp dụng vi phạm cơ bản. Sự thiếu thống nhất giữa hai đạo luật tạo ra nhiều lúng túng cho các cơ quan tài phán. Tòa án và Trọng tài gặp khó khăn khi đánh giá mức độ vi phạm để chấp nhận yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. Ngoài ra, nghĩa vụ thông báo hủy bỏ hợp đồng cũng thường xuyên xảy ra tranh chấp. Nhiều bên không gửi văn bản thông báo hoặc thông báo chậm trễ, dẫn tới thiệt hại lan rộng. Vấn đề bồi thường tổn thất về quyền nhân thân và uy tín thương mại khi hợp đồng bị hủy bỏ cũng chưa có hướng dẫn chi tiết.

2.1. Căn cứ hủy bỏ do vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ

Khoản 1 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hủy bỏ hợp đồng do vi phạm nghiêm trọng. Vi phạm nghiêm trọng là hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ khiến đối phương không đạt được mục đích giao kết. Tuy nhiên, luật chưa đưa ra tiêu chí định lượng cụ thể cho khái niệm không đạt được mục đích. Việc đánh giá phụ thuộc phần lớn vào nhận định chủ quan của thẩm phán. Một bên có thể lợi dụng điều này để đơn phương hủy bỏ hợp đồng nhằm thoái thác nghĩa vụ khi thị trường biến động. Việc thiếu quy định rõ ràng về thời hạn khắc phục trước khi hủy bỏ hợp đồng cũng gây rủi ro lớn cho bên thực hiện nghĩa vụ.

2.2. Vướng mắc trong giải quyết hậu quả và quyền nhân thân

Hậu quả pháp lý của hủy bỏ hợp đồng đặt ra nhiều thách thức phức tạp. Điều 427 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên phải hoàn trả tài sản đã nhận. Trường hợp đối tượng hợp đồng bị tiêu hủy, hao mòn hoặc chuyển nhượng cho bên thứ ba ngay tình rất khó xử lý. Việc định giá tài sản hoàn trả tại thời điểm hủy bỏ hợp đồng thường gây mâu thuẫn gay gắt. Khoản 4 Điều 427 lần đầu tiên ghi nhận việc xử lý hậu quả liên quan đến quyền nhân thân. Tuy nhiên, quy định này còn mang tính nguyên tắc chung. Hiện chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết cách thức xác định mức bồi thường danh dự, uy tín kinh doanh bị tổn hại khi hủy bỏ hợp đồng.

III. Giải pháp hoàn thiện chế định hủy bỏ hợp đồng ở Việt Nam

Nhằm hoàn thiện chế định hủy bỏ hợp đồng, cơ quan lập pháp cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể Điều 423 và Điều 424 Bộ luật Dân sự 2015. Văn bản hướng dẫn cần làm rõ tiêu chí xác định hành vi không đạt được mục đích giao kết hợp đồng. Thứ hai, pháp luật cần thống nhất thuật ngữ giữa Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại để tránh xung đột pháp lý. Thứ ba, quy định bắt buộc về thời hạn ân hạn sửa chữa vi phạm trước khi tuyên bố hủy bỏ cần được luật hóa. Biện pháp này giúp bảo tồn quan hệ hợp đồng thương mại và giảm thiểu tranh chấp không đáng có. Thứ tư, cần xây dựng cơ chế định giá tài sản hoàn trả minh bạch nhằm hạn chế thất thoát tài chính. Cuối cùng, việc bổ sung án lệ về hủy bỏ hợp đồng sẽ tạo cơ sở xét xử nhất quán cho hệ thống tòa án các cấp.

3.1. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá vi phạm nghiêm trọng

Cần xây dựng hướng dẫn áp dụng thống nhất về vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Pháp luật Việt Nam có thể tiếp thu kinh nghiệm quốc tế từ Bộ nguyên tắc UNIDROIT và Công ước CISG 1980. Tiêu chí xác định cần dựa trên ba yếu tố then chốt. Thứ nhất là mức độ mất đi quyền lợi mà bên bị vi phạm mong đợi từ hợp đồng. Thứ hai là hành vi cố ý hay vô ý của bên vi phạm nghĩa vụ. Thứ ba là khả năng khắc phục vi phạm trong một thời hạn hợp lý. Việc quy chuẩn hóa các yếu tố này giúp cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra phán quyết khách quan và minh bạch.

3.2. Quy chuẩn thủ tục thông báo và hoàn trả tài sản

Quy trình hủy bỏ hợp đồng cần được quy định chặt chẽ về mặt hình thức và thời gian. Pháp luật cần yêu cầu thông báo hủy bỏ phải lập bằng văn bản hoặc phương thức điện tử có giá trị chứng cứ. Thời hạn thông báo cần được ấn định rõ ràng kể từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Nếu chậm thông báo gây thiệt hại gia tăng, bên hủy bỏ phải tự chịu trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, cần thiết lập nguyên tắc cụ thể trong việc định giá tài sản không thể hoàn trả bằng hiện vật. Cơ chế tính toán hoa lợi, lợi tức và chi phí bảo quản tài sản cũng cần được quy định chi tiết để bảo đảm công bằng.

IV. Ứng dụng nghiên cứu hủy bỏ hợp đồng trong thực tiễn pháp lý

Nghiên cứu về hủy bỏ hợp đồng theo quy định pháp luật Việt Nam mang giá trị thực tiễn to lớn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho sinh viên ngành luật trong việc hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp. Đề tài giúp người học rèn luyện kỹ năng phân tích luật thực định và đánh giá án lệ chuyên sâu. Đối với các doanh nghiệp, hiểu rõ quy định hủy bỏ hợp đồng giúp chủ động kiểm soát rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại. Các bên có thể chủ động thỏa thuận điều khoản hủy bỏ hợp đồng rõ ràng ngay từ khâu soạn thảo. Điều này hạn chế tối đa nguy cơ tranh chấp kéo dài khi có biến cố kinh doanh phát sinh. Đồng thời, việc nắm vững trình tự pháp lý bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại được thực thi hiệu quả. Việc áp dụng đúng đắn chế định này góp phần tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn và ổn định cho nền kinh tế.

4.1. Định hướng triển khai đề tài khóa luận luật học

Khóa luận tốt nghiệp luật về hủy bỏ hợp đồng yêu cầu sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Sinh viên cần tiếp cận đề tài qua phương pháp phân tích luật viết, đối chiếu văn bản và tổng hợp thực tiễn xét xử. Việc thu thập các bản án thực tế từ Tòa án nhân dân và phán quyết trọng tài giúp đề tài có tính thuyết phục cao. Bài nghiên cứu cần làm nổi bật các xung đột giữa Bộ luật Dân sự 2015 và các luật chuyên ngành. Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp lập pháp và kỹ năng xử lý tình huống thực tế cho người hành nghề luật tương lai.

4.2. Lưu ý soạn thảo và thực thi hợp đồng cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng điều khoản hủy bỏ hợp đồng ngay trong giai đoạn đàm phán. Cần quy định rõ ràng các hành vi bị coi là vi phạm nghiêm trọng và căn cứ hủy bỏ cụ thể. Hợp đồng cần xác định rõ quy trình gửi thông báo, thời hạn ân hạn khắc phục vi phạm và phương thức xử lý hậu quả tài sản. Khi phát sinh vi phạm, bên có quyền phải lập tức lập văn bản thông báo theo đúng địa chỉ thỏa thuận. Việc tuân thủ đúng trình tự luật định giúp doanh nghiệp tránh rủi ro bị kiện ngược vì hủy bỏ hợp đồng trái pháp luật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học huỷ bỏ hợp đồng theo quy định của pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 còn phân biệt hủy bỏ hợp đồng với đơn phương chấm dứt hợp đồng và tuyên bố hợp đồng vô hiệu thông qua các tiêu chí về điều kiện áp dụng, chủ thể có quyền thực hiện và hậu quả pháp lý. Việc phân biệt này giúp tránh nhằm lẫn trong thực tiễn áp dung, đồng thời tạo cơ sở cho các phân tích về pháp luật hiện hành trong Chương 2 và đánh giá thực tiễn áp dụng, đề xuất giải pháp hoàn thiện trong Chương 3. xvi Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hủy bỏ hợp đồng 2. Các trường hợp húy bỏ hợp đồng 2.

Hủy bỏ hợp đồng do bên vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bó theo thoả thuận của các bên hợp đồng Theo điểm a, khoản 1, Điều 423 BLDS 2015 quy định về húy bỏ hợp đồng: “I, Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bi thường thiệt hai trong trường hợp sau đây: a) Bên kia vi phạm hợp đông là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận, ` Điều nay có nghĩa là, khi một bên vi phạm hợp đồng, bên kia có thể tuyên bó hủy bỏ hợp đồng, tuy nhiên chỉ trong trường hợp vi phạm đó được xác định là điều kiện hủy bó mà hai bên đã thỏa thuận trước đó. Không phải mọi vi phạm hợp đồng đều tự động là cơ sở để hủy bỏ; chỉ những vi phạm được thỏa thuận rõ ràng là điều kiện hủy bỏ mới có hiệu lực. Quy định này bắt nguồn tử nguyên tắc tự do hợp đồng, theo đó các bên được quyền tự do đàm phán, thỏa thuận và xác định nội dung, phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình, miễn là không vi phạm quy định của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên bị hủy bỏ hợp đồng bởi nến không có điều kiện này, việc hủy bỏ hợp đồng rat dé bị bên có quyền hủy bỏ hợp đồng lợi dung dé gây bat lợi cho bên vi phạm hợp đồng'!.

Tuy nhiên không phải bất cứ sự thỏa thuận nào cũng có thé là điều kiện hủy bỏ, những sự kiện đã được thỏa thuận phải là sự vi phạm hợp đồng mới là điều kiện hủy bỏ. Như vậy, căn cứ hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp này phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: Các bên có thỏa thuận về điều kiện hủy bỏ; có sự vi phạm hợp đồng của một bên; thời điểm các bên thỏa thuận về điều kiện hủy bỏ hợp đồng diễn ra trước khi sự kiện đó xảy ra. Thứ nhất, các bên có thỏa thuận về điều kiện hủy bỏ. Luận điểm này được củng cố bởi quy định của BLDS Pháp tại Điều 1184, khi nêu rõ: “Điều kiện hủy bỏ là loại điều kiện khi chúng xảy ra sẽ làm hủy bỏ nghĩa vụ đã cam kết và các bên phải khôi phục lại tình trạng ban dau như chưa từng cam kết.

Khi các bên thỏa thuận về điều kiện huy bỏ, điều đó không làm hoãn lại việc !! Trần Danh (2021), Huy bỏ hợp động theo quy định của BLDS năm 2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. xvii thực hiện nghĩa vụ. Các bên van thực hiện nghĩa vụ cua mình như bình thường. Nhưng khi điều kiện đó xảy ra, thì nghĩa vụ sẽ bị hủy bỏ, bên tiếp nhận lợi ích phải hoàn trả cho bên kia”.

Theo khoản 1 Điều 120 BLDS 2015: “7. Trưởng hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự khi điều kiện đó xảy ra, giao dich dân sự phát sinh hoặc hiy bó”. Như vậy, có thé hiểu điều kiện hủy bỏ là điều kiện mà khi chúng xảy ra thì hợp đồng được hủy bỏ. Việc thỏa thuận về hủy bỏ hợp đồng cũng nằm trong quyền tự đo hợp đồng của các bên.

Pháp luật không chỉ công nhận quyền thỏa thuận nội dung và điều khoản hợp đồng mà còn cho phép các bên tự do thỏa thuận về việc hủy bỏ hợp đồng khi xảy ra những sự kiện nhất định. Điều kiện hủy bỏ phải được thỏa thuận trước đó, có thé được ghi rõ trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng hoặc các hình thức thỏa thuận khác được pháp luật công nhận, và điều này phải được thiết lập trước khi vi phạm xảy ra. Thông thường, các điều khoản về điều kiện hủy bỏ được ghi rõ trong hợp đồng. Ví đụ, trong một hợp đồng cung cấp phần mềm giữa Công ty A và Công ty B, có thé có điều khoản quy định: “Nếu bên cung cấp phan mém không hoàn thành việc phát triển hệ thong đúng tiễn độ trong vòng 60 ngày kế từ ngày ký hợp dong, bên thuê dich vụ có quyển hủy bỏ hợp đông mà không can báo trước.

” Trong trường hợp này, nếu Công ty A không hoàn thành việc phát triển phần mềm theo đúng tiến độ, Công ty B có quyền hủy bỏ hợp đồng dựa trên điều kiện đã được théa thuận. Thứ hai, có vi phạm hợp đồng. Vi phạm hợp đồng, trong mọi trường hợp, luôn bị coi là hành vi không đúng đắn và không phù hợp trong quan hệ hợp đồng giữa các bên. Do hệ thông pháp luật các quốc gia cũng như quốc tế đều có nguồn gốc, hoặc chịu ảnh hưởng của luật La Mã nói chung và nguyên tắc “pacta sunt servanda” nói riêng, nên các hệ thống pháp luật này đều nhìn nhận tính ràng buộc của hợp đồng và đều buộc các bên tham gia xác lập hợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ của mình phù hợp với các điều khoản đã thỏa thuận.

Vì vậy, không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hay không tôn trọng cam kết mà các bên đã tự nguyện xác lập (vi phạm hợp đồng) đều bị xem là hành vi sai trái. Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, hệ thống pháp luật các quốc gia đều áp xviii đặt trách nhiệm pháp lý đối với bên không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, cũng như dự liệu các hệ quả pháp lý nhằm khắc phục tình trạng do hành vi không thực hiện nghĩa vu theo hợp đồng gây nên”. Về nguyên tắc, khi hợp đồng đã được ký kết, các bên có trách nhiệm tuân thủ bằng cách thực hiện đầy đủ, đúng hạn và chính xác các nghĩa vụ đã cam kết. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều trường hợp các bên không thực hiện đúng thỏa thuận.

Bất kể nguyên nhân hay mức độ, việc không thực hiện đúng nghĩa vụ đều được coi là vi phạm hợp đồng. Khi một bên vi phạm hợp đồng, điều này thường gây ra hậu quả đối với bên còn lại, thậm chí có thể làm ảnh hưởng hoặc vô hiệu hóa hoàn toàn mục đích của họ. Vì vậy, pháp luật Việt Nam và pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới đều có những quy định chỉ tiết về vấn đề vi phạm hợp đồng. Trong hệ thống pháp luật Anh, một hợp đồng bị vi phạm khi có một bên thực hiện không đúng theo các thỏa thuận trong hợp đồng.

Việc thực hiện không đúng ở đây có thể hiểu là thực tế họ đã thực hiện không đúng các thỏa thuận (actual breach) hoặc có sự biểu lộ trước rằng họ sẽ không thực hiện đúng theo thỏa thuận — vi phạm trước thời gian thực hiện hợp đồng (anticipatory breach)". Theo pháp luật Mỹ, vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp dong". Theo BLDS Pháp, vi phạm hợp đồng được hiểu là tất cả các hành vi không thực hiện nghĩa vụ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng'. Theo pháp luật của Đức, vi phạm hợp đồng bao gồm các trường hợp như sau: Thực hiện muộn (không thực hiện toàn bộ hợp đồng), thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ khi đến hạn thực hiện hợp đồng bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng.

Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 có định nghĩa về vi phạm hợp đồng như sau: “Vi phạm hợp dong là việc một bên không thực hiện, thực hiện không day du hoặc thực hiện không dung nghĩa vu theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy 2 Bùi Thị Thanh Hang, 2017, “7rách nhiệm dân sự”, “chế tai” hay “biện pháp khắc phuc” đối với hành vi vi phạm hợp déng?, Tap chí nghiên cứu Lap pháp, https://lapphap. vn/Pages/TinTuc/208001/-Trach -nhiem-dan-su----che-tai--hay-- bien-phap-khac-phuc--doi-voi-hanh-vi-vi-pham-hop-dong-.html, truy cập ngày 02/03/2025. 13 Nguyễn Thị Ánh Vân (chủ nhiệm), 2014, Nghiên cứu so sánh các quy định chung trong luật hợp đồng của một số nước trên thế giới, Đề tài nghiên cứu khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 343. 14 Nguyễn Thị Anh Vân (chủ nhiệm), 2014, Nghiên cứu so sánh các quy định chung trong luật hợp đồng của một số nước trên thế giới, Đề tài nghiên cứu khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 353.

!5 Nguyễn Thi Ánh Vân (chủ nhiệm), 2014, Nghiên cứu so sánh các quy định chung trong luật hop đồng của một số nước trên thể giới, Đề tài nghiên cứu khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 355. xix định cua luật nay”. BLDS 2015 không quy định cụ thé thé nào là vi phạm hợp đồng, tác giả cho rằng có thể vận dụng định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ tại Điều 351 BLDS 2015 dé diễn giải cho khái niệm nay. Theo đó, “vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đây đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không ding nội dung của nghĩa vụ `.

So sánh với BLDS 2015, có thể thấy việc xác định hành vi vi phạm của LTM 2005 về cơ ban mang tính phổ quát hơn về mặt câu từ. Vi phạm nghĩa vụ theo quy định Điều 351 BLDS 2015 có thể là vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hoặc vi phạm các nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng. Theo đó, vi phạm hợp đồng là vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Như vậy, khái niệm “vi phạm hợp đồng” theo pháp luật Việt nam cũng có sự tương đồng với các nước trên thế giới, đều bao hàm bat cứ sự không thực hiện đúng hợp đồng nao, có thé là không đúng về thời hạn hợp đồng, không đúng về đối tượng hợp đồng, không đúng về địa điểm,.

Tác gia đồng tình với cách định nghĩa về vi phạm phạm hợp đồng như sau: “Vi phạm hop đồng là hành vi không thực hiện đúng hợp dong của bên có nghĩa vụ bao gồm hành vi không thực hiện một phan, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hay có khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp dong”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ