Chương 1: Một số van đề chưng về bảo vệ người lao động làm việc không trơn thời gan Chương 2: Pháp luật lao đông Việt Nam hiên hành với việc bảo vệ người lao động làm việc không trọn thời gian Chương3: Hoàn thiên các quy định về bảo vệ người lao động làm việc không tron thời gan Chương |: MOT S6 VAN DE CHUNG VE BẢO VỆ NGƯỜI LAO DONG LAM VIỆC KHONG TRON THỜI GIAN 11. Mat so van đề chung về người lao động làm việc không tron thời gianvà bảo vệ người ho động làm việc không trọn thời gian 1. Khái niệm ho động làm việc không trọn thời gian Hiện nay trên thị trường lao động, số lượng lao đông làm việc không tron thời gian là không nhỏ. Theo cơ sở dữ liêu thông kê của ILOSTAT, tỷ lệ người lao động làm việc không tron thời gian ở Việt Nam năm 2007 chỉ là hơn 13% nhưng đến năm 2017 tỷ 1Ê nay đã tăng lên gap hon hai lần lên tới khoảng 30,1%!.
Minh chứng rõ rang nhất có thé nhân thây tai các thành phố lớn nhy Hà Nội, Thành pho Hồ Chi Minh hau hết vị trí phục vụ, pha chế,. ở nhà hàng quán an hay nhân viên kinh doanh, chăm sóc khách hàng tại một số doanh nghiệp là người lao động làm việc không tron thời gian Lực lượng lao động này có vị trí quan trong Ho có mat ở nhiéu lĩnh vực, các ngành và các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh: Vào đầu những năm 1900, những nỗ lực đã được thực hién ở cap độ quốc tê nhằm cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ người lao đông làm việc không trọn thời gian Cũng từ đây tai Hội nghị toàn thê của Tô chức Lao động quốc té được triệu tập tại Geneva, Thuy Si bởi Cơ quan chủ quản của V ăn phòng Lao động Quốc tê vao ngày7 tháng6 năm 1994, đã thông qua Công ước số 175 về Lao động bán công. Khái niém về lao đông bán công (leo động không tron thời gian) đá được Tô chức lao đông quốc tế (ILO) đưa ra một cách chi tiết và day đủ. Theo đó: “Người lao đồng ban công” là chỉ một người lao đồng được trả lương mà thời gian lao động thông thường thấp hon thời gian làm việc của những người lao đồng tron thời gian trong diéu liện tương đương” Trong hội nghị trên, Khuyên nghị số 182 nam 1994 về lao đông bán công cũng đã được thông qua và giải thích: “ That ngữ “người lao động ban công” có ngiữa là ' Tổ chức Lao động Quốc tế, "ơ sở đế lầu thông kê tin hong và thời gi lim việc (COND)"ILOSTAT.
ostat ilo ongidata „ : ? Điều 1 Công ước số 175 năm 1994 về Lao đồng ban công. người có việc làm có số giờ làm việc bình thường thắp hơn số giờ làm việc của những. người lao đồng toàn thời gian tương đương "3 Pháp luật lao đông một sô nước 1a thành viên của ILO cũng đưa ra dinh ngiĩa về lao động không trơn thời gian với những cách định nghĩa khác nhau. Theo Điều2 Dao luật về công việc bán thời gian va hợp đông lao động có thời han của Đức có quy đính về lao động bán thời gian như sau: “Lao động bán thời giam là lao đồng có số giờ làm việc bình thường hàng tuân ngắn hơn so với lao động toàn thời gian tương đương.
Nếu số giờ làm việc bình thường hàng tuần không được thỏa thuận, một lao động sẽ được huyền ding ban thời gian nêu tính trưng bình, số giờ làm viée bình thưởng của ho trong khoảng thời gian lên tới một năm thấp hơn số giờ làm viée bình thường của mốt lao động toàn thời gian tương đương "9 Con theo Điều 2 Đạo luật cải thiện quan lý nhân sự và chuyển đổi tình trang việc làm cho người lao động bán thời gian và người lao động có thời han (Đạo luật số 76 nam 1993) của Nhật Ban thi: “Thuật ngữ "người lao đồng bản thời gian” diroc sử dimg trong Dao luật nay có nghĩa là người lao động có thời gian làm việc hàng tun theo qip: định ngắn hơn so với người lao động có tình trạng việc làm tiêu chuẩn được sử đụng bởi cùng một người sử ching lao đông (hoặc ngắn hơn so với người lao đồng cỏ tình trang việc làm tiêu chuẩn đang làm cìmg loại công việc với người lao đồng được dé cập, nêu người lao động được sử ding bởi người sử dung lao động có liên quan tham gia vào cimg loại công việc với người lao động có tình trang việc làm tiêu chuẩn được người sử dụng lao động đỏ tyễn dung. trừ rường hop được quy dinh bởi Lệnh của Bộ Y té, Lao động và Phúc loi)’ Nhu vậy có thé thay ở tai mỗi quốc gia trên thê giới lại có những cách đưa ra khái miệm khác nhau về lao đông không tron thời gian. Tuy nhiên về cơ bản, khái niém “lao động bán thời gian” hay “lao động bản công” mà ILO cũng như các nước đưa ra hẻm chứa những vân đề sau: 3 Khuyến nghị số 182 năm 1994 về Lao động bán công. 4 Gesetz iiber Teilzeitarbeit und befrstete Arbeitsvertrage 1s -Hwwnwex.org/dyn/natlex2/natlex2/files/downlo ad/Ð0469/TzBfG pdf Š Đạo luật cai thiện quan lý nhân sự và chuyền doi tinh trạng việc làm cho người lao động ban thời gian và người lao động có thời hạn.
https wan japanes elawtrans lation.go jp/enflaws/view/34a9 Thứ nhất, lao động không tron thời gian bao gém tất cả những cá nhân có đủ điều kiện luật đính, có nhu cầu tim việc dé kiêm thu nhập như. người lao đông bình. thường, người khuyết tật, người cao tuổi, sinh viên, hoc sinh. Thứ hai, thời gio làm việc của các đối tượng trên thường it hơn so với những, lao động lam việc tron thời gian trong cùng đơn vị sử đụng lao động, C ăn cứ xác định.
thời giờ làm việc thường được so sánh với thời giờ làm việc trong một ngày, một tuân, một tháng hoặc một năm của lao động toàn thời gian tương đương Sự tương đương ở đây có thé hiểu đó là trong cùng một vi trí, cùng một công việc,. nhưng, người lao đông làm việc không tron thời gian có thời giờ làm việc lá ít hơn Làm việc không tron thời gian (part-time job) đã có từ lâu và ngày cảng thịnh hành tại Việt Nam. Tuy nhiên, đến khi BLLD năm 2012 được thông qua thì hình thức làm việc này mới được chính thức ghi nhận tại Điêu 34 bộ luật này. Trước đó, BLLD không có chương, điều nào quy đính cụ thê về ché độ lao động không tron thời gian ma chỉ có một số quy định đan xen như lao động nữ, lao đông là người cao tuôi thì sẽ được hưởng chế độ làm việc linh hoạt (không trọn ngày, không tron tuân).
Việc kế thừa va sửa đôi BLLĐ năm 2012 vệ vấn đề lao động làm việc không trọn thời gian trong BLLĐ nam 2019 đã giải quyét được một số van dé phát sinh như: không có cơ sở pháp lý dé người sử dung lao đông và người lao đông giao kết hop đông lao động lam việc theo chế độ bán thời gian, không có cơ sở pháp lý dé xác định mức lương và quyền lợi khác cho người lao đông hay việc khỏ tham gia bảo hiểm xã hôi, bảo hiém y tế cho những lao động này, Khoản1 Điều 32 BLLĐ năm 2019 đưa ra khái niệm về làm việc không tron thời gian như sau: “ Người lao động làm việc không tron thời gian là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thưởng theo ngày hoặc theo tuần hoặc theo tháng được guy đình trong pháp luật về lao đồng. thôa ước lao đồng tập thé hoặc nội qng lao đồng". V ới quy đính này, cơ sở pháp ly dé xác định làm việc không tron thời gian là quy định của pháp luật lao đông, quy định trong thỏa tước lao động tập thé, quy đính trong nội quy lao đông (về quy định thời gian lam việc bình thường trong mét ngày, trong một tuân đối với từng loại công việc). Theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 BLLĐ năm 2019: “Người lao động thỏa thuận với người sử dung lao động làm việc không trọn thời gian khi giao kết hợp đồng lao động °' Như vậy, đôi tượng được làm việc không tron thời gian co thé là bat kỳ cá nhân nao, nêu giữa người lao động và người sử dụng lao đông đã thỏa thuận được về việc làm việc không trọn thời gian.
Đặc điểm của người lao động làm việc không trọn thời gian Thứ nhất. người lao động làm việc không tron thời gian thường có thời gian lâm việc linh hoạt hon so với làm việc toàn thời gian. Ho có thé lam việc không tron ngày hoặc trong một số giờ nhật định mối tuân Điều nay cho phép họ cân bằng cuộc sông gia đính, học tập hoặc các hoạt động khác ma ho quan tâm. Dù không mang nhũng nét đặc trưng riêng như lao động đặc thù (có những đặc điểm riéng biết về thể chất.
tinh than, chức năng sinh học. mà do những đặc điểm nay họ có thé gặp những trở ngại nhất đình khỉ tham gia quan hệ lao đồng) nhung chính thời gian làm việc của họ it hơn so với lao đông bình thường đã khiến họ phải chịu sự phân biệt trong tuyển dụng, tiền lương, phúc lợi và tính én định trong công việc, điều này làm phát sinh mâu thuần với lao động dai hạn và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh té xã hôi. Thứ hai, người lao động không tron thời gian thường không được ký kết hợp đồng hoặc không được ký các hop đông lao động dài hạn với nhà tuyển dụng Họ thường thöa thuận miéng về công việc minh lam hoặc lam việc theo hợp đông ngắn han, không cam kết công việc trong thời gian dai. Điêu nay có thé mang lại sự không chắc chắn về thu nhập, quyên lợi và tương lai công việc của họ.
Tuy nhiên, điều nay cũng mang lại sư tư do và cơ hội khám phá nhiều lĩnh vực và ngành nghệ khác nhau. Thứ ba, leo đông làm việc không tron thời gian thường có thu nhập không ôn định Do làm việc trong thời gian ngắn, thu nhập của người lao động này thường thập hơn so với NLD lam việc toàn thời gian Ho có thé gắp khó khăn trong việc duy trì mức sống ôn định. Thứ tư, người lao động làm việc không trọn thời gian thường nhận được các quyên lợi và su bảo vệ ít hơn người lao động toàn thời gan.