Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một cấu phần trọng yếu trong hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, hướng tới việc bảo vệ thu nhập và cuộc sống của lực lượng lao động thuộc khu vực phi chính thức, lao động tự do không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Thực tiễn triển khai Luật BHXH năm 2014 cho thấy tỷ lệ người lao động tham gia BHXH tự nguyện vẫn còn thấp so với tiềm năng và mục tiêu phát triển, do thiếu các chế độ ngắn hạn, mức hỗ trợ tài chính còn hạn chế và thời gian đóng tích lũy để hưởng lương hưu kéo dài (20 năm).
Nhằm khắc phục những bất cập này và thể chế hóa Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật BHXH năm 2024 vào ngày 29/06/2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2025). Đạo luật mới bổ sung nhiều điểm tiến bộ về đối tượng, quyền lợi hưởng ngắn hạn (trợ cấp thai sản), phương thức đóng linh hoạt và căn cứ đóng theo mức tham chiếu. Tuy nhiên, do luật chưa chính thức có hiệu lực thi hành tại thời điểm nghiên cứu, việc đánh giá toàn diện các quy định mới và dự báo tác động thực tiễn là đòi hỏi cấp thiết.
Khóa luận xác định mục tiêu tổng quát là phân tích có hệ thống cơ sở lý luận và các quy định mới về BHXH tự nguyện trong Luật BHXH năm 2024 trên cơ sở so sánh với Luật BHXH năm 2014; từ đó đánh giá khả năng tháo gỡ bất cập thực tiễn, dự báo khó khăn khi triển khai và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.
Tác giả xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Chỉ ra và phân tích một số vấn đề lý luận về BHXH tự nguyện và pháp luật BHXH tự nguyện;
- Tổng kết những kết quả và tồn tại trong quá trình thi hành các quy định về BHXH tự nguyện theo Luật BHXH năm 2014;
- Phân tích và dự báo một số ưu điểm và hạn chế có thể xảy ra khi thực hiện các quy định pháp luật BHXH tự nguyện theo Luật BHXH năm 2024;
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện theo Luật BHXH năm 2024.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về BHXH tự nguyện trong Luật BHXH năm 2024, Luật BHXH năm 2014, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành và văn bản pháp luật liên quan (Bộ luật Lao động năm 2019, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào ba nhóm chế định nòng cốt: đối tượng tham gia, mức đóng và phương thức đóng, các chế độ BHXH tự nguyện (thai sản, hưu trí, tử tuất, bảo hiểm tai nạn lao động).
- Không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2018–2023, từ đó dự báo việc thi hành Luật BHXH năm 2024 từ thời điểm có hiệu lực (ngày 01/07/2025).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý thuyết và văn bản pháp lý: Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách an sinh xã hội của Đảng tại Nghị quyết số 28-NQ/TW. Khung pháp lý tham chiếu bao gồm Công ước số 102 (năm 1952) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội, Luật BHXH năm 2014, Luật BHXH năm 2024, Bộ luật Lao động năm 2019, Giáo trình Luật An sinh xã hội của Trường Đại học Luật Hà Nội cùng các ấn phẩm chuyên khảo quốc tế về mô hình an sinh tại Đức, Nhật Bản, Hà Lan và Thổ Nhĩ Kỳ.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc chế định pháp luật và các báo cáo tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các điều khoản tương ứng giữa Luật BHXH năm 2014 và Luật BHXH năm 2024 nhằm chỉ ra điểm mới, điểm kế thừa và sự thay đổi về kỹ thuật lập pháp; so sánh với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: Khai thác số liệu thứ cấp từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Tổng cục Thống kê về tốc độ gia tăng người tham gia, cơ cấu nhóm thu nhập và số lượt giải quyết chế độ hưu trí, tử tuất trong giai đoạn 2018–2023.
- Phương pháp dự báo: Kết hợp phân tích quy phạm với dữ liệu thực chứng để lượng hóa khả năng mở rộng diện bao phủ và các xung đột pháp lý có thể nảy sinh khi luật mới vận hành.
- Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật, Tờ trình Dự án Luật BHXH (sửa đổi) của Chính phủ, báo cáo thống kê chính thức của BHXH Việt Nam giai đoạn 2018–2023, cùng các kỷ yếu hội thảo khoa học và luận văn chuyên ngành Luật Lao động.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện và sự điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chương này xây dựng nền tảng lý thuyết về BHXH tự nguyện dưới hai góc độ: kinh tế (sự bảo đảm thu nhập thay thế khi người lao động giảm/mất khả năng lao động) và pháp lý (hệ thống quy phạm do Nhà nước ban hành nhằm tổ chức thực hiện và bảo trợ). Tác giả phân tích 03 đặc điểm bản chất của BHXH tự nguyện:
- Chủ thể tham gia chủ yếu là người lao động thuộc khu vực phi chính thức, chưa tham gia quan hệ lao động có hợp đồng;
- Người tham gia có quyền tự chủ lựa chọn mức đóng, phương thức đóng và chủ thể thực hiện theo quy định;
- Số lượng chế độ hưởng thường ít hơn BHXH bắt buộc, tập trung vào chế độ dài hạn.
Về mặt nguyên tắc, pháp luật BHXH tự nguyện vận hành trên 03 nguyên tắc cốt lõi: nguyên tắc tự nguyện tham gia; nguyên tắc mức đóng căn cứ trên thu nhập lựa chọn của người lao động; nguyên tắc mức hưởng được tính toán dựa trên thời gian đóng và mức phí đã đóng vào quỹ. Khóa luận cũng tổng quan kinh nghiệm quốc tế: Nhật Bản phân tầng 3 nhóm đối tượng tham gia; Đức áp dụng cho lao động độc lập với điều kiện đã làm việc tối thiểu 5 năm; Thổ Nhĩ Kỳ chia hệ thống theo lao động tự do và nông dân tự do; Hà Lan quản lý qua Ngân hàng BHXH và các hiệp hội nghề nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và dự báo thực tiễn thực hiện
Tác giả so sánh chi tiết các quy định giữa hai đạo luật và đánh giá số liệu thực tiễn:
Bảng 1: So sánh quy định pháp luật về BHXH tự nguyện giữa Luật 2014 và Luật 2024
| Nội dung so sánh |
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 |
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 |
| Đối tượng mở rộng |
Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện bắt buộc. |
Bổ sung người lao động tạm hoãn HĐLĐ/HĐLV; cán bộ, công chức, viên chức tạm hoãn thực hiện nhiệm vụ (Điểm b Khoản 4 Điều 2). |
| Căn cứ mức đóng trần |
Tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở (Khoản 1 Điều 87). |
Tối đa bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng (Khoản 2 Điều 31). |
| Phương thức đóng bổ sung |
Đóng một lần cho những năm còn thiếu nhưng mức đóng cao hơn. |
Bổ sung phương thức đóng một lần cho thời gian còn thiếu để đủ điều kiện hưởng lương hưu; luật hóa thời hạn đóng chi tiết (Khoản 2 Điều 36). |
| Số lượng chế độ |
02 chế độ dài hạn: Hưu trí và Tử tuất (Khoản 2 Điều 4). |
04 chế độ: Trợ cấp thai sản, Hưu trí, Tử tuất, Bảo hiểm tai nạn lao động theo Luật ATVSLĐ (Khoản 3 Điều 4). |
| Điều kiện thời gian đóng hưởng lương hưu |
Đủ 20 năm đóng BHXH trở lên (Điểm b Khoản 1 Điều 73). |
Giảm xuống từ đủ 15 năm đóng BHXH trở lên (Điều 98). |
| Chế độ thai sản |
Không có. |
Trợ cấp 2.000.000 đồng/con từ ngân sách nhà nước, điều kiện đóng đủ 6 tháng trong 12 tháng trước sinh (Điều 94, Điều 95). |
| Trợ cấp mai táng |
Bằng 10 lần mức lương cơ sở (Khoản 2 Điều 80). |
Bằng 10 lần mức tham chiếu tại tháng chết (Khoản 2 Điều 109). |
Bảng 2: Diễn biến người tham gia và giải quyết chế độ BHXH tự nguyện (2018–2023)
| Năm / Giai đoạn |
Số người tham gia BHXH tự nguyện |
Tỷ lệ tăng trưởng / Tỷ lệ bao phủ lực lượng LĐ |
Số lượt giải quyết hưu trí |
Số lượt giải quyết tử tuất |
| 2018 |
Trên 277.000 người |
Tăng 23,6% (+52.900 người so với 2017) |
— |
— |
| 2019 |
Gần 574.000 người |
Tăng 107,1% (+296.700 người), đạt 1,17% LĐ |
— |
— |
| 2020 |
Trên 1.128.000 người |
Tăng gấp 2 lần so với 2019 |
— |
— |
| 2021 |
1.449.000 người |
Tăng 29% so với 2020; phi chính thức đạt 2,88% |
— |
— |
| 2022 |
Hơn 1.460.000 người |
Tăng 0,9% (+12.980 người), đạt 3,17% LĐ |
7.749 người |
Hàng tháng: 197; Một lần: 4.594 |
| Quý 1/2023 |
— |
— |
1.267 người |
Hàng tháng: 54; Một lần: 1.184 |
Tác giả chỉ rõ trong năm 2022, cơ cấu người tham gia còn mất cân đối: hộ nghèo chỉ có 34.419 người (2,36%), hộ cận nghèo có 39.597 người (2,71%), trong khi gần 90% kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước lại dàn trải cho nhóm "đối tượng khác" theo hình thức cào bằng. Mức chuẩn nghèo nông thôn tăng từ 700.000 đồng lên 1.500.000 đồng làm tăng mức đóng sàn (tăng 2,14 lần), gây áp lực tài chính cho lao động thu nhập thấp.
Về kỹ thuật lập pháp trong Luật BHXH năm 2024, tác giả chỉ ra các điểm chưa hợp lý: Điều 114 (hình thức chi trả) và Điều 115 (trợ cấp định cư nước ngoài) bị xếp sau các điều khoản của chế độ tử tuất; quy định về người vừa có thời gian đóng bắt buộc vừa có thời gian đóng tự nguyện bị gộp chung chế độ hưu trí và tử tuất trong một điều luật; chế độ bảo hiểm tai nạn lao động trong BHXH tự nguyện chưa có quy định hướng dẫn tương ứng tại Luật ATVSLĐ năm 2015.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia làm hai nhóm:
-
Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi Luật ATVSLĐ năm 2015 để bổ sung cơ chế, quy trình đóng - hưởng bảo hiểm tai nạn lao động đối với người tham gia BHXH tự nguyện, cụ thể hóa quy định tại Điểm đ Khoản 3 Điều 4 Luật BHXH năm 2024;
- Điều chỉnh bố cục các điều luật: chuyển quy định Điều 114, Điều 115 về vị trí chung của chế độ hưu trí, tách bạch quy định liên thông giữa BHXH bắt buộc và tự nguyện thành các điều khoản riêng;
- Thiết kế lại cơ chế hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước theo hướng nâng tỷ lệ hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo và giảm tính bình quân cào bằng ở nhóm đối tượng khác.
-
Kiến nghị nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện:
- Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phân tầng nội dung cho từng nhóm lao động tự do, nông dân và phụ nữ; huy động hệ thống chính trị cơ sở tham gia vận động;
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ, văn hóa giao tiếp và tính minh bạch của đội ngũ đại lý thu, nhân viên bưu điện;
- Đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa tối đa 3 thủ tục chi trả và 15 thủ tục giải quyết hưởng chế độ, nâng cao tỷ lệ người dân thực hiện giao dịch điện tử.
Kết quả và đóng góp
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật An sinh xã hội: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề, đặc biệt là phần so sánh đối chiếu điều khoản giữa Luật BHXH năm 2014 và Luật BHXH năm 2024 tại Chương 2.
- Cán bộ quản lý, cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp: Tham khảo số liệu tổng kết thực tiễn 2018–2023 và các kiến nghị tại Chương 3 về cải cách thủ tục hành chính, tổ chức đại lý thu và phân loại đối tượng truyền thông chính sách.
- Nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lập luận để sửa đổi bổ sung Luật An toàn, vệ sinh lao động và ban hành các Nghị định hướng dẫn chi tiết về "mức tham chiếu" trước ngày 01/07/2025.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định những chế độ nào dành cho người tham gia BHXH tự nguyện?
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật BHXH năm 2024, BHXH tự nguyện gồm 04 chế độ: (1) Trợ cấp thai sản; (2) Hưu trí; (3) Tử tuất; (4) Bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động. Số lượng này tăng thêm 02 chế độ so với Luật BHXH năm 2014 (vốn chỉ có Hưu trí và Tử tuất).
2. Điều kiện và mức hưởng chế độ trợ cấp thai sản mới theo Luật BHXH năm 2024 được quy định ra sao?
Theo Điều 94 và Điều 95 Luật BHXH năm 2024, người lao động đóng BHXH tự nguyện (hoặc vừa đóng bắt buộc vừa đóng tự nguyện) từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh con sẽ được hưởng trợ cấp 2.000.000 đồng cho mỗi con sinh ra (bao gồm cả trường hợp thai từ 22 tuần tuổi chết trong tử cung hoặc khi chuyển dạ). Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước bảo đảm, người tham gia không phải đóng thêm tiền.
3. Điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu hàng tháng thay đổi như thế nào trong Luật BHXH năm 2024?
Theo Điều 98 Luật BHXH năm 2024, thời gian đóng BHXH tối thiểu để đủ điều kiện hưởng lương hưu đã giảm từ đủ 20 năm (theo Luật 2014) xuống còn đủ 15 năm, kết hợp với điều kiện đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019.
4. Mức trần đóng BHXH tự nguyện thay đổi như thế nào giữa hai đạo luật?
Luật BHXH năm 2014 quy định mức thu nhập tháng tối đa làm căn cứ đóng bằng 20 lần mức lương cơ sở (Khoản 1 Điều 87). Luật BHXH năm 2024 điều chỉnh căn cứ này thành 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng (Khoản 2 Điều 31), nhằm phù hợp với lộ trình cải cách tiền lương và bãi bỏ mức lương cơ sở.
5. Vì sao tác giả cho rằng chính sách hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách giai đoạn 2018–2022 còn mang tính "cào bằng"?
Số liệu thực tế chỉ ra rằng nhóm người nghèo và cận nghèo tham gia BHXH tự nguyện chiếm tỷ trọng rất thấp (lần lượt 2,36% và 2,71% trong năm 2022), trong khi gần 90% nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước được chi trả cho nhóm "đối tượng khác" với cùng một định mức hỗ trợ, làm phân tán nguồn lực an sinh và chưa tập trung ưu tiên cho các nhóm thực sự khó khăn.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Lương Bằng đã phân tích toàn diện các quy định mới về bảo hiểm xã hội tự nguyện trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 trên cơ sở so sánh với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và thực tiễn thi hành giai đoạn 2018–2023. Công trình làm nổi bật những bước tiến lập pháp quan trọng như việc bổ sung trợ cấp thai sản, giảm thời gian tích lũy hưởng hưu trí xuống 15 năm và áp dụng mức tham chiếu linh hoạt. Đồng thời, tác giả chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp và đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội từ ngày 01/07/2025.