Tổng quan nghiên cứu
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cùng sự tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đã thúc đẩy làn sóng dịch chuyển thể nhân mạnh mẽ vào Việt Nam. Theo các báo cáo thống kê chuyên ngành, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại nước ta không ngừng gia tăng, phân bổ rộng khắp tại 63 tỉnh, thành phố với quy mô lên tới hàng trăm nghìn người. Đồng thời, Việt Nam cũng đã đưa khoảng 500.000 lao động đi làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, tạo ra nhu cầu đối ứng cấp thiết về việc hoàn thiện khung khổ pháp lý bảo vệ quyền của người lao động di trú.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết những bất cập, mâu thuẫn giữa hệ thống pháp luật thực định và yêu cầu quản lý thực tiễn đối với lao động nước ngoài làm việc có thời hạn. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận về địa vị pháp lý của người lao động nước ngoài; phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định tuyển dụng, cấp phép, thực hiện hợp đồng lao động và giải quyết tranh chấp theo Bộ luật Lao động năm 2012; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật đồng bộ với định hướng của Bộ luật Lao động năm 2019.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quan hệ lao động hợp pháp có thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp góp phần tháo gỡ các rào cản hành chính cho hơn 24.000 doanh nghiệp sử dụng lao động quốc tế, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học nhằm giải quyết thỏa đáng 24.854 vụ tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài được thụ lý trong giai đoạn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết cốt lõi: Thuyết quyền con người phổ quát (Universal Human Rights Theory) theo tinh thần Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc năm 1985, Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú năm 1990; và Lý thuyết điều chỉnh song trùng trong Tư pháp quốc tế (Private International Law). Các lý thuyết này khẳng định người lao động nước ngoài vừa chịu sự chi phối bởi nguyên tắc mệnh lệnh hành chính của nước sở tại (Luật Công), vừa chịu sự điều chỉnh của nguyên tắc tự do thỏa thuận hợp đồng (Luật Tư).
Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa ba chủ thể chính: Cơ quan quản lý nhà nước, Người sử dụng lao động và Người lao động nước ngoài. Bốn khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm:
- Lao động nước ngoài làm việc có thời hạn: Người không mang quốc tịch Việt Nam làm việc hưởng lương trong một khoảng thời gian xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam.
- Giấy phép lao động (Work Permit): Văn bản pháp lý do cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền cấp, xác nhận tính hợp pháp của việc làm việc.
- Di chuyển nội bộ doanh nghiệp (Intra-corporate Transferees): Sự luân chuyển nhân sự tạm thời của doanh nghiệp có hiện diện thương mại.
- Vị trí chuyên môn đặc thù: Bao gồm 4 nhóm chức danh được phép tuyển dụng gồm chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành và lao động kỹ thuật.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Phương pháp phân tích quy phạm được sử dụng để mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Lao động 2012, Nghị định 11/2016/NĐ-CP, Nghị định 140/2018/NĐ-CP và Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH. Phương pháp so sánh luật học được triển khai nhằm đối chiếu pháp luật Việt Nam với 24 Công ước của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn (đặc biệt là Công ước số 88, 159 và Công ước số 98 được thông qua năm 2019).
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ nguồn báo cáo chính thống của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, cùng hệ thống bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp. Mẫu nghiên cứu bao gồm 24.854 hồ sơ vụ việc tranh chấp lao động giai đoạn 2012 - 2016 và số liệu thống kê việc làm tại hơn 10 địa phương trọng điểm (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu...). Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng nhằm phản ánh chân thực các trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước. Lý do lựa chọn phân tích định lượng kết hợp phân tích án lệ là nhằm đảm bảo tính khách quan, đo lường chính xác các điểm nghẽn trong quy trình thực thi pháp luật suốt timeline 7 năm nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu lao động nước ngoài theo ngành nghề có sự phân hóa rõ rệt nhưng phân bổ chưa thực sự tối ưu. Thống kê cho thấy nhóm ngành khoa học công nghệ, giáo dục, y tế và quản lý nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với gần 25%; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 22,2%; ngành xây dựng chiếm 13%; lĩnh vực dịch vụ khách sạn và nhà hàng chiếm gần 12%; các lĩnh vực khác chỉ chiếm từ 1% đến 5%. Xét theo số lượng tuyệt đối, ngành dệt may - da giày tập trung khoảng 432.000 nhân sự quản lý (chiếm 24,12%), chủ yếu từ Trung Quốc và Đài Loan; ngành giáo dục có khoảng 300.000 giáo viên (chiếm 16,6%), chủ yếu đến từ Anh, Úc, Mỹ, Canada; nhóm kỹ sư công nghệ cao đạt khoảng 100.000 người (gần 6%).
Thứ hai, thủ tục hành chính về tuyển dụng và cấp phép còn nặng tính hình thức, thời gian kéo dài. Quy định tại Điều 170 Bộ luật Lao động 2012 yêu cầu người sử dụng lao động phải giải trình nhu cầu trước 30 ngày và chờ phê duyệt trong 15 ngày, sau đó mất thêm 07 ngày làm việc để xin cấp phép lao động. Đối với chuyên gia vào làm việc ngắn hạn dưới 30 ngày (cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm), thủ tục xin xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép vẫn phức tạp, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp nhận được văn bản chấp thuận khi chuyên gia đã hoàn thành công việc và xuất cảnh.
Thứ ba, tình trạng lao động phổ thông nước ngoài nhập cảnh trái phép diễn biến phức tạp tại các đô thị lớn. Khảo sát thực tế tại các quận Gò Vấp, Bình Tân, Bình Chánh, Tân Phú thuộc Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy xuất hiện làn sóng lao động phổ thông làm các công việc thu gom hàng may mặc, thợ hồ, bốc vác mà không có giấy phép lao động.
Thứ tư, hiệu quả giải quyết tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hệ thống Tòa án đã thụ lý xét xử sơ thẩm 24.854 vụ việc. Tuy nhiên, ở cấp độ hòa giải viên lao động, số vụ thụ lý chỉ đạt trung bình 3 đến 4 vụ mỗi năm với tỷ lệ hòa giải thành là 60%, trong khi 40% hòa giải không thành xuất phát từ việc người sử dụng lao động cố tình vắng mặt.
Thảo luận kết quả
Các số liệu phân bổ ngành nghề (25% nhóm kỹ thuật cao, 22,2% chế tạo, 13% xây dựng) và tỷ lệ giải quyết tranh chấp (60% thành công, 40% thất bại) có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ cơ cấu tròn kết hợp bảng so sánh đối sánh giữa các địa phương trọng điểm. Nguyên nhân của những tồn tại trên bắt nguồn từ sự thiếu liên thông cơ sở dữ liệu giữa Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
So sánh với các nghiên cứu trước đây của TS. Lưu Bình Nhưỡng (2009) và ThS. Trần Thu Hiền (2011), nghiên cứu này chỉ rõ rằng dù khung pháp lý đã có bước tiến lớn khi ban hành Nghị định 11/2016/NĐ-CP, khoảng cách giữa quy định "chỉ tuyển dụng vị trí lao động trong nước chưa đáp ứng được" với thực tế kiểm soát tuyển dụng vẫn chưa được thu hẹp. Về mặt tư pháp quốc tế, việc áp dụng Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng lao động vẫn còn lúng túng khi các bên không thỏa thuận chọn luật, gây khó khăn lớn cho quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
-
Số hóa và rút ngắn quy trình cấp phép lao động:
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên toàn quốc, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ cấp Giấy phép lao động từ 07 ngày làm việc xuống tối đa 03 ngày làm việc. Mục tiêu đạt 100% hồ sơ được nộp và phê duyệt trực tuyến, hoàn thành trong giai đoạn 2020 - 2022.
-
Đơn giản hóa thủ tục đối với lao động ngắn hạn và di chuyển nội bộ:
Chính phủ cần ban hành Nghị định thay thế Nghị định 11/2016/NĐ-CP (hướng dẫn Bộ luật Lao động 2019), quy định cơ chế miễn trừ hoàn toàn thủ tục xin văn bản xác nhận đối với chuyên gia nước ngoài làm việc dưới 30 ngày (cộng dồn không quá 90 ngày/năm), thay thế bằng hình thức khai báo điện tử qua mạng trong vòng 24 giờ kể từ khi nhập cảnh.
-
Tăng cường cơ chế thanh tra liên ngành và chế tài xử phạt:
Thành lập đoàn thanh tra liên ngành định kỳ giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an xuất nhập cảnh và Ban Quản lý các Khu công nghiệp tại các địa bàn trọng điểm. Đặt mục tiêu giảm 50% tình trạng lao động nước ngoài làm việc trái phép tại các doanh nghiệp FDI và nhà thầu EPC trong vòng 24 tháng kể từ khi áp dụng.
-
Hoàn thiện thiết chế hòa giải và xét xử tranh chấp lao động quốc tế:
Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp phối hợp xây dựng giáo trình đào tạo bắt buộc về Tư pháp quốc tế và ngoại ngữ pháp lý cho 100% hòa giải viên lao động và thẩm phán chuyên trách. Phấn đấu nâng tỷ lệ hòa giải thành công các vụ tranh chấp lao động cá nhân có yếu tố nước ngoài từ mức 60% hiện nay lên trên 80% trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng:
-
Cơ quan quản lý nhà nước về lao động và xuất nhập cảnh:
Cán bộ tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại 63 tỉnh, thành phố có thể sử dụng các số liệu thực chứng và phân tích bất cập của luận văn để phục vụ công tác soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định về quản lý người lao động nước ngoài.
-
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và nhà thầu EPC:
Bộ phận nhân sự và ban giám đốc doanh nghiệp có thể tra cứu trực tiếp quy trình, điều kiện tuyển dụng 4 nhóm vị trí chuyên môn, các biểu mẫu giải trình và thủ tục xin cấp giấy phép lao động để tối ưu hóa quy trình tuyển dụng và tránh các rủi ro xử phạt vi phạm hành chính.
-
Luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý lao động:
Cung cấp khung lý luận chuyên sâu về điều khoản chọn luật áp dụng theo Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015, kỹ năng giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài và xử lý các vụ việc hòa giải không thành.
-
Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên ngành Luật:
Tài liệu tham khảo cho các môn học Luật Lao động, Luật Thương mại quốc tế và Tư pháp quốc tế, phục vụ việc nghiên cứu phát triển các đề tài liên quan đến quyền của người lao động di trú trong thời kỳ hội nhập CPTPP và EVFTA.
Câu hỏi thường gặp
1. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam bắt buộc phải đáp ứng những điều kiện nào?
Căn cứ Điều 171 Bộ luật Lao động 2012 và Điều 9 Nghị định 11/2016/NĐ-CP, người lao động phải có đủ năng lực hành vi dân sự, có trình độ chuyên môn, sức khỏe phù hợp, không có tiền án tiền sự và phải được cấp Giấy phép lao động hợp pháp bởi cơ quan có thẩm quyền Việt Nam (trừ trường hợp được miễn theo luật định).
2. Doanh nghiệp Việt Nam có được phép tuyển dụng lao động nước ngoài làm công việc phổ thông không?
Theo Điều 170 Bộ luật Lao động 2012, doanh nghiệp chỉ được phép tuyển dụng công dân nước ngoài vào 4 vị trí: quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được. Tuyệt đối không được tuyển dụng lao động nước ngoài cho các vị trí công việc phổ thông.
3. Thời hạn tối đa của Giấy phép lao động cấp cho người nước ngoài là bao lâu?
Thời hạn của Giấy phép lao động được cấp theo thời hạn của hợp đồng lao động dự kiến giao kết hoặc văn bản cử nhân sự từ phía nước ngoài, nhưng thời hạn tối đa cho mỗi lần cấp mới hoặc gia hạn không quá 02 năm (24 tháng) theo quy định hiện hành.
4. Người nước ngoài làm việc ngắn hạn dưới 30 ngày có phải xin Giấy phép lao động không?
Theo điểm e khoản 2 Điều 7 Nghị định 11/2016/NĐ-CP, chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm thuộc diện không phải cấp giấy phép lao động nhưng phải làm thủ tục xác nhận theo quy định.
5. Khi phát sinh tranh chấp hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài thì cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?
Tranh chấp lao động cá nhân có yếu tố nước ngoài được giải quyết thông qua thủ tục thương lượng, hòa giải bởi Hòa giải viên lao động thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về lao động nước ngoài làm việc có thời hạn, khẳng định tính tất yếu khách quan của di chuyển lao động quốc tế trong bối cảnh hội nhập CPTPP và EVFTA.
- Đánh giá chi tiết thực trạng áp dụng Bộ luật Lao động 2012, chỉ rõ các điểm nghẽn trong quy trình cấp phép, phân bổ ngành nghề (với 432.000 lao động quản lý may mặc, 300.000 giáo viên) và công tác giải quyết 24.854 vụ án tranh chấp lao động.
- Phát hiện các khoảng trống pháp lý đối với việc quản lý lao động ngắn hạn dưới 30 ngày và tình trạng lao động phổ thông không phép tại các đô thị lớn.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với tiến trình thực thi Bộ luật Lao động năm 2019, trọng tâm là số hóa thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả thanh tra liên ngành.
- Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, cung cấp cẩm nang tra cứu thiết thực cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp FDI và giới nghiên cứu luật học trong giai đoạn phát triển mới.