CHƯƠNG 1: MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE LAO DONG NƯỚC NGOÀI VA PHAP LUAT VE LAO DONG NƯỚC NGOÀI 1. Mot so van đề lý luận về lao động nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điêm cña lao doug mtớc ngoài 1. Khái riềm lao động nước ngoài Việc hình thành các công đông chính trị khác nhau trên thé giới đã làm xuất hiện.
nhiều van dé phức tap trong giao lưu dân sự và giao lưu kinh tế giữa các thành viên. của công đồng chính trị này với công đông chính trị khác hoặc với thành viên của cộng đồng chính trị khác. Ở một khía cạnh nhất định, nhằm bảo vệ cho các thành viên của minh trong việc tìm kiêm việc làm và với nhiều lý do khác nhau về chính trị, quân sự, ngoại giao hay văn hóa, truyền thông, đôi khi do hoàn cảnh đặc biệt của xã hội, pháp luật của các quốc gia có thé đặt ra các rao căn đối với sư xâm nhập của những người LĐNN Hiện nay, do các yêu tô tác đồng và theo cách nhìn nhận, đánh giá trong ting Tinh vực mà các quốc gia ghi nhận khái tiệm “người nước ngoài” không đông nhất Theo Luật sử dung LDNN của Singapore: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch hoặc thường trú tại Singapore" (Điều2 Phân 1)2. Trong Luật quản lý xuất, nhập cảnh của Han Quốc: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Hàn Quác" (Điều 2 Khoản 2)Ÿ Như vay, các nước đều thừa nhận người nước ngoài được biểu là người không có quốc tịch của quốc gia mình, ho có thé 1a người có quốc tịch người nước ngoài hoặc là người không có quốc tịch.
Bởi lế, xét về bản chất pháp lý, môi quan hé quốc tịch. chính là cơ sở xác lập mai quan hệ quyên và nghiia vụ của một người với quốc gia mà họ là công dân Khi mang quốc tịch của một quốc gia, một người có đây đủ các quyền và ngiĩa vụ của công dân gắn liên theo quy đính của pháp luật quéc gia đó, trong khi người nước ngoài chỉ có các quyên và nghia vụ nhất định Như vậy, đặc điểm chung của các khái tiêm trên là lây tiêu chí quốc tích dé đính nghĩa về người nước ngoài. Cơ sở pháp lý để xác đính công dân của một nước chính là quốc tịch Nêu mét người nào mang quốc tịch của một nước thi là công dân của nước đó và ngược lại, nêu không có quéc 2 Employment of Foreign Manpower Act (2990), Singapore. ` Inmnigration Control Act of South Korea (1993), Korea.
7 tịch nước này thì được coi là người nước ngoài. Quyên và nghia vụ của người nước ngoài va công dân nước sở tại không giống nhau, trong một sô lĩnh vực, người nước ngoài không được thực hiện một sô quyên như công dân của nước sở tại, mac đủ về nguyên tắc họ được hưởng quy chế “dai ngộ rửhư công dân”. LĐNN ở bất ky quốc gia nao đều là một tất yêu trong tiên trình toàn câu hóa mà quốc gia đó đá nhập cuộc. Các cổng trình nghiên cứu trong nước và quốc tê đã khang đính: “Lao động di trú đã luôn luôn là một.
phẩnkhông thé tách rời của nén văn minh nhân loại, và những cuốc tranh luận nóng bóng về hình thức của nó, cing nae Kang khổ pháp lý và vị trí thực tê đã đi cùng với hình thức đó từ thời thương cỗ không chỉ ở Châu Ai*. Nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người, Khoa Luật - Dai học Quốc gia Hà Nội nhân định rang: “Lao động di trú là hiện tượng diễn ra từ lẫu trong lịch sử nhân loại nhưng phát triển đặc biệt nhanh chóng từ đâu thé kỳ XX tới nay” và “Cùng với toàn câu hóa kinh tế, dur đoán vẫn dé lao động đi trú sẽ trở nên hết sức phd biến trong thé ip XXI va là một trong những đặc trưng co bản của thé kỷ này”Š. Ở góc đô nghiên cứu cá nhân, TS. Lưu Bình Nhưỡng cũng đưa ra nhận đính rằng: “Người nước ngoài vào Iiệt Nam làm việc là xu thé tatyêu do tác động của quả trình toàn cầu hóa quan hệ lao đông và hội nhập kinh t8"6.
G góc đô quan lý Nhà nước, bà Nguyễn Thi Hai V ân khẳng định: “Trong xu thé mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng của liệt Nam, lao động là người nước ngoài vào nước ta làm việc cing là một xu thé tắtyếu”. Cùng nghiên cứu về một van dé nhưng các tác giả lai có nhiều thuật ngữ dé chỉ mot khái niém như “lao động di trú”, “lao động nhập cư” và “lao đông tước ngoài” Có thể hiểu thuật ngữ “lao động đi trứ' và thuật ngữ “lao động nhập cu” đều được chuyển ngữ từ thuật ngữ “migrant workers” của tiếng Anh, nên có cùng mét nghĩa. Còn thuật ngữ “lao động nước ngoài” (ting anh dich là foreign worker) thực chất là lao động ci trú nhưng được gọi phù hợp với góc nhin của người sử dung lao động hay dưới góc đô quản lý Nhà nước đối với người lao động di trú tại nước họ. 3 Cizmsloy Pavel, Cech Valentova Eva, Hradscna Pavia, Holicova Klra, Jelnkova Marie, Rommek Martin, Romuukova Pavia (2014), Foreign Workers in the bow maxket nthe Czech Republic md in selected Exropean comuries , Association for Irdergration and Migration Organization for Aid Refugees Multicultural Center Pray "Klos Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền của người ho ding di trú (Công tớc của Lần hiệp quốc và những văn kiên quan trong của ASEAN), Sách tham khảo , Nob.
Hong Đức, HÀ “ Lưu Binh Nhưỡng (2009), “Một so văn đề pháp lý về người nước ngoài đến làm vike tại Việt Nam”, Tạp chi Luit học ,(09),tr 1-10. ˆ Lê Phương (2015), “QLLDNN lim viic tai Việt Nam: Hải hòa giữa yêu cầu và loi ich”, Báo Lao đông, thứ Bảy: ngày 12/09/2015, 1-§ nhận van dé quản ly LDNN từ giác độ của các cơ quản ly Nha nước Việt Nam, thi 16 rang LDNN là người nước ngoài đang lao động tại Việt Nam. Dưới góc đô pháp ly, ILO thông qua Điều ước đầu tiên về quyên của NLD di trú (Công ước di trú về việc lam) năm 1939 và được sửa đổi bằng Công ước số 97 năm 1949, tiệp đến thông qua Công ước số 143 về di tra trong những điều kiện bi lam dung và về xúc tiên bình đẳng cơ may và đối xử đối với NLD di tri năm 1975, Liên Hop Quốc thảo luận về van dé quyền của NLD di trú từ dau thập ky 1970 và đền năm 1990 thì thông qua Công ước quốc tê về bảo vệ quyền của tat cả những NLD di trú và thành viên gia đình họ năm 1990 -ICRMW. Theo quan niém của ILO, lao động di trú là khái niém chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác dé làm việc vì lợi ích của chính minh và bao gồm bat ky người nào đã được thường xuyên thửa nhận là lao đông di trú (Điều 11 Công ước số 97 và Điều 11 Công tước sô 143).
Dựa trên những phân biệt về lãnh thé, NLD di chuyển từ nước mang quốc tịch sang quốc gia không mang quốc tịch dé nhận biết lao động di trú. ILO đã khẳng đính khái niém lao động di trú là NLD “dé được thường xuyên thừa nhân lả lao động di trú”, ngiữa là NLD di trú được coi là hợp pháp theo pháp luật của nước tiệp nhận lao động. Công ước Quốc tê về việc Bảo vệ quyên của tat cả người lao động Di trú và Thanh viên Gia đính ho năm 1990 - được coi là điều ước quốc tê trực tiép nhật và toan điện nhat về quyên của NLD di trú, đính ngliia: “Thuật ngữ “người lao động di tri” dùng dé chỉ một người đã, đang và sẽ lam một công việc có hưởng lương tai một quốc gia mà người đó không phải là công dân” (Điều 2, khoản 1). Day là một đính nghĩa khá 16 ràng, PGS.
TS Lê Thi Hoài Thu đánh giá “Điều nay thé hiện một chính sách toàn điện của Liên hop quốc đối với người lao động di trú mà các quốc gia thành viên của Công ước phái bảo đầm thực hiện tại quốc gia minh”®. Phân tích nhằm mục đích của luận văn này, có thé thay định nghiie nay đã làm 16 các đặc trưng cơ bản của khái tiệm lao đông di trú nhu sau: Thứ nhất, người đó phải là người không có quốc tịch của quốc gia dén lam việc, và thứ hai, người đó phải đã, đang hoặc sẽ làm một công việc có thu nhập do người sử đụng lao đồng tại nước sở tei chi trả Như vậy những người nước ngoài đầu tư vào xước sở tại hay tự minh tiên hành các hoạt động nghiên cứu khoa học. không được xem là người lao động di trú theo đính nghiia noi trên Khoảng thời gian lao động tại nước ngoài của người lao động không được. Công ước cũng quy định những người * Lê Thủ Hoải Thm (2013), ‘Bio dim quyền của người lao động ải trú trong pháp init lao động Việt Nam”, Nib.
Daihoc Quốc gia Hà Nội không được coi là lao động di trú Điều 3), cụ thể là: Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tô chức quốc tê, hoặc những người được cử hoặc được tuyển. dụng bởi một nước sang mét nước khác dé thực hién các chức năng chính thức mà việc tuyển đụng người đó và địa vị của người đó được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước quốc tê cụ thể, Những người được cử hoặc tuyển dung bởi một nước hoặc người thay mat cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác ma việc tiếp nhận và địa vị của người đó được điêu chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia nơi có việc làm quốc gia nơi có việc lam và theo thỏa thuận này, người đó không được coi là NLD di trú, Những người sông thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xử dé làm việc như những nha đầu tư, Những người ty nen và không có quốc tịch, trừ khi việc áp dụng Công ước được quy đính trong pháp luật của quốc gia liên quan, hoặc các văn kiện quốc té dang có hiệu lực đốt với Quốc gia thành viên liên quan, Sinh viên va học viên, Những người di biển. hay người làm việc trên các công trình trên biển không được nhận vào đề cư trú và tham. gia vào một công việc có hưởng trả lương ở quốc gia nơi có việc lam.
Theo Cizinsky Pavel, di trú được hiểu là su thay đổi dài han nơi cư trú của mét người hay của mét nhóm người ra nước ngoài trong một khoảng thời gian ngắn không được xem là di trú.