Chương I VAI TRÒ CUA DAU MO Ở KHU VỰC TRUNG ĐÔNG VA CHIẾN TRANH VUNG VỊNH (1990 — 1991) 1. Vai trò của đầu mỏ ở khu vực Trung Đông 1. Với nền kinh tế thế giới Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội được dùng đề sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của hau hết các phương tiện giao thông vận tải. Hơn nữa, dau cũng được sử dung trong công nghiệp hóa dau dé sản xuất các chất déo (plastic) và nhiều sản phâm khác.
Vì thế, dầu thường được ví như là *vàng đen". Các nhà sản xuất của khu vực như Arab Saudi, Iran, Iraq, Kuwait, các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất và Oman là các nhả cung cấp dầu hàng đầu thế giới. Từ khi được phát hiện đến nay, đầu mỏ đã có những tác động không nhỏ đến kinh tế, chính trị, tiền bạc và quyền lực trên thé giới. Khu vực Trung Đông, đặc biệt là vùng Vịnh Ba Tư, có vai trò rat quan trọng đối với nên kinh tế toan cầu.
Thể chiến thứ hai kết thúc đã mở ra một ky nguyên hoà bình mới cho nhân loại. Đây là giai đoạn mà ngành công nghiệp thế giới có những bước tiền vô cùng quan trọng. Nói đến dâu, khu vực Trung Đông có thẻ được xem như một trong những nơi có nguồn dự trữ tài nguyên dầu mỏ lớn nhất thé giới. Ké từ khi dau mỏ lần đầu được phát hiện tại Iran (1908) cùng với sự sụp đồ của dé quốc Ottoman (1922), khu vực Trung Đông đã dan trở thành một điểm nóng va có một vị trí địa chính tri vô cùng quan trọng trên ban đò thé giới.
Dầu lần đầu tiên được tìm thấy ở khu vực Trung Dong là tại Masjed Soleyman, một khu vực nằm ở phía tây nam Ba Tu (Iran ngày nay) vào ngày 26 tháng 5 năm 1908. Tầm quan trọng của dau ở đây ngay lập tức được công nhận không chỉ bởi Bộ Hai quân của Anh, lúc này đang tìm kiếm một nguồn cung năng lượng mới cho các thiết giáp ham được vận hành bằng dầu của mình mà còn bởi các nước châu Âu khác. Hệ quả của nó đã dẫn đến một cuộc giao tranh ngắn giữa Anh-Đức-Thô Nhĩ Kỳ đề giành quyền kiểm soát đường ong khi bắt đầu Thế chiến thứ nhất (Owen, 2008, p. Trong suốt thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh thé giới làn thứ nhất, Vương quốc Anh đã cho quân đội bảo vệ các mỏ dau ở Iran, ké từ khi phương Tay sử dụng dau được khai thác tại đây thay cho than như một nguồn nhiên liệu (vào năm 1911).
Việc duy trì các hoạt động dầu mỏ ở Trung Đông góp phan cho việc cung cấp nguồn nhiên liệu cho ngành công nghiệp của các nước phương Tây. Cuộc Đại khủng hoảng kinh tế năm (1929 — 1933) đã khiến nhiều nguồn thu nhập bị gián đoạn va suy giảm. Sự hiện diện của dầu mỏ ở Arab Saudi trở nên quan trọng hơn đo nó không chỉ tạo ra thu nhập mà còn tạo ra việc làm cho những § người bị mat việc làm trong thời kỳ Đại suy thoái. Đến năm 1938, tổng sản lượng dau của Trung Đông là 15 triệu tấn, tương đương 5,5% tông sản lượng trên toàn thế giới (Longrigg, 1962, p.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bất kì quốc gia nào có thê đảm bảo được nguồn cung đầu mỏ là có thé đảm bảo được sự tồn vong của mình trong cuộc chiến vốn đòi hỏi một lượng lớn năng lượng gia tăng theo thời gian. Đối với nền kinh tế công nghiệp. dau có thê được ví như mạch máu giúp đảm bảo duy trì sự sống của nên kinh tế này. Một quốc gia công nghiệp sẽ không thé phát trién nếu thiểu đi nguồn năng lượng thiết yếu này.
Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, chứng kiến sự độc quyền của các công ty dầu mỏ của Mỹ, Anh và Pháp trong việc thăm dò, khảo sát và khai thác các giếng dau ở Trung Đông cho đến việc ấn định giá dầu. Chiém 40% trong tông sản lượng dau của Thế giới, dau ở Trung Đông được khai thắc và thăm đò dưới dạng năng lượng của khoáng san va nhiên liệu (Fareed & Yaseen, 2019, p. Sự phụ thuộc năng lượng của các quốc gia phát triển đã chuyên từ than đá sang dau mỏ với tỷ lệ gia tăng: 13,7 đến 15% (Fareed & Yaseen, 2019, p. Các quốc gia tu bản phương Tây và Nhật Bản sẵn sàng xâu xé Trung Đông đẻ lay nguồn dầu phục vụ cho chiến lược của họ trong lĩnh vực chính trị thé giới (Fareed & Yaseen, 2019, p.
Các mỏ chứa dau với số lượng dồi dào là nhân tô chính trong các chính sách của các quốc gia thời kì hậu Thế chiến lần thứ hai. Dầu đã định hình nên một trật tự chính trị mới của thé giới. Theo thông kê. khu vực nay sở hữu 68% tông lượng dau được khám phá trên thế giới.
Lượng đầu lớn hơn và được tính toán lần lượt tìm thấy 8,5%, 9%, 11% va 25% ở Iran, Kuwait, Iraq va Arab Saudi (Fareed & Yaseen, 2019, p. Sự giảu có về dau mỏ ở đây đã dem đến cho Trung Đông sự chú ý về kinh tế và chính trị của thé giới. Sự quan trọng của khu vực này đã biến Trung Đông dan trở thành một chủ đề quan trong trong các toan tính chính trị cũng như xung đột quốc te. Bên cạnh đó, dầu m6 đã có tác động sâu rộng đến việc quản lý các nén kinh tế “phân bổ”, buộc chúng phải tuân theo hai logic riêng biệt: một là phân phối.
hai là đa dang hóa (Owen, 2008, p. Ca hai logic này có thé được nhận biết thông qua các hoạt động trong nỗ lực toản diện đầu tiên nhăm giải quyết các van dé va nắm bắt các cơ hội trong kỷ nguyên dầu mỏ, theo mô hình được gọi là mô hình Kuwait. Alsabah, tiều vương của Kuwait nhận thấy các gia tộc cầm quyền tại đây không thê ngồi yên trên đống tài sản thu được từ dầu mỏ của họ hoặc tệ hơn nữa, bị người Anh buộc phải gửi nó vào các tài khoản tại Ngân hàng của Anh nên đã đưa ra một hệ thông đánh thuế ngược (Owen, 2008. Theo hệ thông thuế nay, thay vì công dan phải đóng tiền cho nhà nước thi nhà nước đã phải trả tiền và hỗ trợ họ dưới hình thức các phúc lợi xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và nhà ở được trợ cấp.
nhà nước con tạo ra 9 một tập hợp các công ty độc quyền cho công din của minh va quan trọng nhất là độc quyền sở hữu các doanh nghiệp và tải sản như một lá chắn chống lại việc chia sẻ quá nhiều của cải với số lượng lớn lao động nhập cư (Owen, 2008, p. Mô hình kinh tế này đã được các quốc gia Vịnh Ba Tư áp dụng dù có sửa đôi lại một số điều. Quốc gia tiêu biêu có thé kẻ đến là Dubai đã đặt ra những hạn chế cho những người không phải công dan của họ. Trong thời gian diễn ra Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô (1947 - 1991), những bài học rút ra từ Chiến tranh thé giới thứ hai cùng với những anh hưởng của dau mỏ đối với nên kinh tế thế giới và trữ lượng phong phú về nguồn tài nguyên nay tại khu vực Trung Đông đã cho thay được tam quan trọng trong việc tiếp cận nguôn tài nguyên dau mỏ Trung Đông đối với an ninh của Anh, Mỹ va Tây Âu.
Dau mỏ là điểm đồng quy của chính sách đối ngoại, những đánh giá về nền kinh tế thé giới, an ninh quốc gia và lợi ich của các doanh nghiệp. Trung Đông sẽ là trung tâm của những van dé nảy. Ở đó, các công ty dau lửa đang nhanh chóng khai thác các mỏ dau và hình thành những thỏa thuận mới dé bảo đảm cho vị trí của họ (Yergin, 2008, p. Đối với Mỹ, tài nguyên dau lửa của khu vực này đã trở thành một lợi ích không kém phan quan trọng so với độc lập cúa Tây Âu.
Do vậy, những mỏ dau của Trung Đông can phải được gìn giữ va bảo vệ ở phía Tây của Bức màn sat! dé bảo đảm sự sông còn về kinh tế của cả phương Tây (Yergin, 2008, p. Việc bao vệ các mỏ đầu của Trung Đông trước các cuộc “chiến tranh nóng” luôn là van đề thu hút sự quan tâm của các nha chiến lược quân sự, đồng thời, họ cũng đã nghĩ đến biện pháp phá huỷ chúng néu chiến tranh thật sự nỗ ra. Tuy vậy, trong Chiến tranh Lạnh, nguồn dâu đến từ Trung Đông sẽ có giá trị rat lớn và cần phải có biện pháp để ngăn chặn những mối nguy có thé gây thiệt hại cho các mỏ dau này. Trung Đông trở thành tâm điểm của trật tự dầu lửa, nơi có các công ty dầu lửa vận hanh với sản lượng rat cao nhằm đáp ứng nhu câu đang ngày một gia tăng của các thị trường.
đặc biệt là Hoa Kỳ với lượng tiêu thụ trong năm 1950 tăng 12% so với nam 1949 (Yergin, 2008, p. Dầu còn ngày càng khang định vị tri của một loại nhiên liệu được ưa thích không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở châu Âu và Nhật Bản, các nền kinh tế nhóm dau thé giới. Nó cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng về kinh tế một cách mạnh mẽ trong suốt hai thập ky sau Thế chiến thứ hai. Năm 1946, tông san lượng đầu của Trung Đông là 35 triệu tan, tương đương 9,5% sản lượng toàn thé giới.
Năm 1952, tổng nguồn ! Thuật ngữ này do Bộ trường Bộ Tuyển truyền của Đức Quốc xã, Joseph Goebbels, sử dụng lắn du tiên trong một bản tuyên ngôn doông xuất bản trong tỡ bảo Dire Das Reich vào thing2 năm 1945 nhưng được pho bien nhờ công của Winston Churchill trong điển văn “Nguồn tiếp sức cho Hòa bình” vào ngày Š thắng 3 năm 1946, Bức man sat he mội biên giới vật lý lẫn tư tưỡng mang tinh biểu tượng chia cất châu Âu thành hai khu vực riêng rẻ tir cuối Thể chiến [I vào năm 1945 đến cudi cuộc Chiến tranh Lạnh vào nam 1991. 10 sản lượng của Trung Đông là 104,5 triệu tan, tương đương 17,2% san lượng thé giới (Longrigg, 1962, p. Xét về sản lượng dau thô, dau mỏ Trung Đông rõ rang đang tăng lên hàng năm với những con số ngày càng lớn hơn, cả tuyệt đối và tỷ lệ. Bên cạnh đó, việc xuất khâu dau thô cũng phát triển ở quy mô ngảy cảng lớn.
Năm 1959, xuất khẩu dầu thô đạt 42,5 triệu tan vào năm 1959 từ các bến đường ông Địa Trung Hải (Banias, Tripoli, Sidon); 86,8 triệu qua Kênh dao Suez; 3 triệu vòng quanh Cape và 42,8 triệu theo các tuyến đường (phía đông) khác (Longrigg, 1962, p.