chương 1 là giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu nền hành vi và ý định khởi nghiệp, từ đó xác định cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, lược khảo các tài liệu đã nghiên cứu, phát hiện khoảng trống nghiên cứu. Từ đó xây dựng được mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 3 giới thiệu về xây dựng thang đo, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin được tiến hành như thế nào, các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê được sử dụng trong luận án.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu qua phân tích định lượng: Kiểm định độ tin cậy của số liệu thang đo, phân tích các nhân tố khám phá, phân tích hồi quy để xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tỉnh Trà Vinh, phân tích sự khác biệt về ý định khởi nghiệp theo nhân khẩu học. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Chương 5 tổng kết những phát hiện, đóng góp của luận án. Đồng thời đề xuất hàm ý quản trị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách. Hơn nữa, một số hạn chế của nghiên cứu và định hướng đối với nghiên cứu tiếp theo được trình bày cụ thể.
9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 được cấu trúc bao gồm: (1) Các lý thuyết liên quan đến khởi nghiệp; (2) Các lý thuyết nền tảng về hình thành và thực thi khởi nghiệp; (3) Lý thuyết về ý định khởi nghiệp; (4) Lý thuyết khác có liên quan nội dung nghiên cứu. Qua các lý thuyết gốc được phân tích, khái niệm nghiên cứu trong luận án được hình thành, phát hiện khoảng trống nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của thanh niên.1 KHỞI NGHIỆP (ENTREPRENEURSHIP) Khái niệm về Khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau. Theo Richard (1734), Khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào. Trong khi đó, Drucker (1985) khẳng định hoạt động này bao hàm ba yếu tố cơ bản như sự cải tiến, sự chấp nhận rủi ro và sự chủ động.
Theo Stevenson (1989) Khởi nghiệp là quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp phát triển ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp. Đến đầu thế kỷ 21, định nghĩa Khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng được làm rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy và quá trình tạo ra và phát triển hoạt động kinh tế bằng cách kết hợp sự chấp nhận rủi ro, sáng tạo hoặc sự cải tiến trong một tổ chức mới đang tồn tại” – theo Ủy ban cộng đồng Châu Âu (2003). Oviatt & McDougall (2005) thì cho rằng Khởi nghiệp là sự khám phá, thực hiện, đánh giá và khai thác những cơ hội để tạo nên những sản phẩm và dịch vụ trong tương lai. Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một khái niệm đa chiều, Khởi nghiệp là việc mở một doanh nghiệp mới hay là tự làm chủ, tự kinh doanh.
Trên các góc độ nghiên cứu khác nhau thì Khởi nghiệp được gắn liền với các thuật ngữ và lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau. Khởi nghiệp được gắn chủ yếu với hai nghĩa và hai hướng nghiên cứu chính như sau: - Trong lĩnh vực Kinh tế lao động thì cho rằng Khởi nghiệp là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình nên gắn Khởi nghiệp với thuật ngữ “tự tạo việc làm” và các nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp 10 (Kolvereid, L. Theo hướng nghiên cứu này, Khởi nghiệp là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ (Linan, F, Chen, Y. Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm việc cho một doanh nghiệp hoặc một tổ chức do người khác làm chủ.
Như vậy, Khởi nghiệp được hiểu là tự tạo việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, là tự làm chủ, tự mở doanh nghiệp và thuê người khác làm việc cho mình. - Trong lĩnh vực Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Khởi nghiệp gắn với thuật ngữ “tinh thần doanh nhân” và các nghiên cứu trong lĩnh vực này được hiểu và định nghĩa khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp “tinh thần doanh nhân” là việc một cá nhân bắt đầu khởi sự công việc kinh doanh của riêng mình (Begley và cộng sự, 2001) hay là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu hoặc là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh hay mở cửa hàng kinh doanh. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì “tinh thần doanh nhân” lại là một thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro tạo ra các giá trị mới trong các doanh nghiệp hiện tại, là sự đổi mới, là một phong cách nhận thức và suy nghĩ, là dự định phát triển nhanh.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn rất đa dạng trong khái niệm và khuôn khổ nghiên cứu về tinh thần doanh nhân. Tinh thần doanh nhân với nghĩa rộng hơn thường được các học giả nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và quản trị chiến lược. - Giữa Khởi nghiệp hiểu theo nghĩa tự tạo việc làm và theo nghĩa tinh thần doanh nhân có sự khác biệt. Tự tạo việc làm nhấn mạnh tới khía cạnh tự làm chủ chính mình, không đi làm thuê trong khi tinh thần doanh nhân còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản trị doanh nghiệp mà thuê người khác nên vẫn có thể đi làm thuê cho các doanh nghiệp khác.
Nghiên cứu về Khởi nghiệp trong đề tài này được hiểu theo nghĩa hẹp của tinh thần doanh nhân, theo đó Khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường để tạo dựng một công việc kinh doanh mới. Khởi nghiệp (từ tiếng Anh là Entrepreneurship) được định nghĩa là một quá trình thiết kế, thử nghiệm và vận hành một cơ sở (ý tưởng) kinh doanh, thường mới khởi đầu ở dạng quy mô nhỏ (Yetisen et al. Xem xét từ góc độ cá nhân, khởi nghiệp được định nghĩa là năng lực và sự sẵn sàng để phát triển, tổ chức và quản lý một doanh nghiệp bằng cách chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận (Albadri & Nasereddin, 2019). Cá 11 nhân thực hiện tiến trình này thường được hiểu là doanh nhân khởi nghiệp (từ tiếng Anh gọi là Entrepreneur) và thường hoạt động khởi nghiệp được thực hiện ở giai đoạn đầu trong vòng từ 01 đến 03 năm (tiếng Anh thường gọi là a nascent entrepreneur).
Khởi nghiệp còn được định nghĩa là khả năng tìm kiếm, nắm bắt cơ hội, sáng tạo ra những phát minh mới và nghiên cứu thành những sản phẩm và dịch vụ cụ thể để cung cấp cho thị trường (Audretsch, 2002). Tương tự, Stevenson & Jarillow (1990) định nghĩa khởi nghiệp là một quá trình mà trong đó cá nhân theo đuổi các cơ hội bất kể hiện có hay không họ có kiểm soát hay sở hữu các nguồn lực. Amitt et al. (1993) thu hẹp định nghĩa về khởi nghiệp và xem khởi nghiệp là một quá trình tìm kiếm lợi nhuận từ sự kết hợp các nguồn lực có giá trị, mới, và độc nhất trong một môi trường đầy rủi ro và khó tiên lượng được.
Mặt khác, khởi nghiệp cần được hiểu rộng hơn không chỉ giới hạn ở việc thành lập một tổ chức mới có thể hoặc không thể tạo lập nên được giá trị (Aldrich & Ruef, 1999). Điều này có thể được hiểu là do bởi quá trình khởi nghiệp có thể tạo lập giá trị và thành công và ngược lại cũng có thể thất bại và tạo lập giá trị là con số không. Quá trình tạo lập giá trị theo Mishra & Zachary (2014) có vai trò quan trọng để hình thành nên khái niệm khởi nghiệp. Theo đó, hành vi khởi nghiệp là kết quả sau một quá trình chịu tác động bởi ý định khởi nghiệp và khao khát có được thành tựu từ hành vi khởi nghiệp.
Dĩ nhiên quá trình này có liên quan đến khả năng nhận biết cơ hội khởi nghiệp của mỗi cá nhân (nhóm), để từ đó hình thành nên năng lực doanh nhân nhằm mục đích cuối cùng là đạt được kết quả (thành tựu). Theo đó, nhận biết cơ hội khởi nghiệp được xem là điều kiện cần để hình thành năng lực doanh nhân, điều này cũng có nghĩa là khi một cá nhân nhận biết được cơ hội và biết cách kết hợp với nguồn lực hiện có (hoặc chưa và sẽ có) để khai thác được cơ hội khởi nghiệp thì đây sẽ là điều kiện đủ để hình thành năng lực doanh nhân. Tuy nhiên, cũng cần thiết để phân biệt giữa khái niệm khởi nghiệp và lập thân hay lập nghiệp để tránh sự hiểu nhầm. Khởi nghiệp thông thường được hiểu là các chủ thể (cá nhân hoặc công ty) đang trong giai đoạn đầu bắt đầu kinh doanh, và ở góc độ hẹp hơn thường được hiểu là các công ty chuyên về công nghệ và hoạt động trong giai đoạn đầu của lập nghiệp (thường được hiểu theo tiếng Anh là Start-up).
Theo Bùi Thế Duy (2017) thì “doanh nghiệp khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo 12 ra một hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa là phải tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới". Điều này cũng có nghĩa là khái niệm khởi nghiệp có thể được hiểu rộng ra và không bó hẹp do bởi nó có liên quan đến đổi mới (công nghệ, quy trình quản lý, Marketing), sáng tạo ra một hình thức mới hoàn toàn hoặc chỉ dựa trên nền tảng kinh doanh cũ, thị trường hiện có để sáng tạo ra hình thức kinh doanh mới hoặc cách tiếp cận mới, xây dựng phân khúc thị trường mới, sản phẩm mới khác biệt với những hình thức, sản phẩm, và dịch vụ hiện có trên thị trường, tìm kiếm những khoảng trống của thị trường hay thị trường bỏ ngỏ chưa được khai thác.