Chương 1: Cơ sở lý luận của thuế thu nhập cá nhân 1. Lịch sử hình thành và tính tất yếu của thuế thu nhập cá nhân 1. Lịch sử hình thành thuế thu nhập cá nhân trên thế giới Thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã được áp dụng từ lâu trên thế giới và đã có lịch sử hàng trăm năm. Ban đầu, thuế thu nhập cá nhân thường được các quốc gia sử dụng trong các cuộc chiến tranh như ở Anh và Hoa Kỳ.
Sau này, thuế thu nhập cá nhân dần trở nên phổ biến trên toàn thế giới, trở thành nguồn thu không thể thiếu của bất kì quốc gia nào, với những mục đích sử dụng rộng lớn hơn mục đích ban đầu của nó. Ngược dòng lịch sử, thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên được ghi nhận là sắc thuế thập phân “Saladin” năm 1188, được nêu ra bởi vua Henry II của Anh. Với mục đích quyên tiền cho cuộc “Thập tự chinh lần thứ ba”, sắc thuế thập phân “Saladin” yêu cầu mỗi người dân Anh phải nộp một phần mười thu nhập và tài sản của họ. Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân hiện đại thường được coi như bắt đầu từ năm 1799, và cũng được thực hiện tại Anh.
Năm 1799, trong cuộc chiến chống lại quân Pháp do Napoleon Bonaparte chỉ huy, Thủ tướng Anh lúc bấy giờ là William Pitt the Younger đã sử dụng thuế thu nhập nhằm mục đích mua thêm vũ khí và trang thiết bị. Thuế thu nhập cá nhân do William Pitt khởi xướng có thuế suất từ 0,8333% với thu nhập hàng năm từ 60 Bảng Anh, đến 10% với thu nhập từ 200 Bảng Anh trở lên (tương đương với khoảng 170. Đến năm 1816, thuế thu nhập cá nhân ở Anh bị bãi bỏ, do những người phản đối nộp thuế cho rằng nó chỉ nên được sử dụng trong các cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, đến năm 1842, thuế thu nhập cá nhân lại được sử dụng tại Anh, nhằm chống lại thâm hụt Ngân sách.
Kể từ đó đến nay, thuế thu nhập cá nhân ở Anh đã có SV: Nguyễn Quang Huy Lớp: Luật KDQT K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ nhiều sự thay đổi, hoàn thiện hơn, trở thành một khuôn mẫu cho các quốc gia khác học hỏi. Ở Hoa Kỳ, thuế thu nhập cá nhân được bắt đầu sử dụng từ năm 1861 do Chính phủ liên bang Hoa Kỳ đặt ra, nhằm mục đích trang trải cho “Nội chiến Hoa Kỳ”. Thuế thu nhập cá nhân được quy định trong Luật doanh thu năm 1861, quy định thuế suất 3% đối với tất cả thu nhập từ 800 USD trở lên (tương đương với 20.
Năm 1894, Đảng Dân chủ trong Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua thuế Wilson- Gorman, thuế thu nhập đầu tiên được sử dụng trong thời bình tại Hoa Kỳ. Thuế Wilson-Gorman ra đời với mục đích bù đắp cho khoản doanh thu bị mất do cắt giảm thuế quan; quy định mức thuế suất 2% đối với thu nhập trên 4000 USD (tương đương 106. Năm 1913, Tu chính án thứ XVI của Hiến pháp Hoa Kỳ đã quy định thuế thu nhập là một phần cố định của hệ thống thuế nước này, được thực hiện một cách đều đặn từ đó đến nay. Tính đến nay có khoảng 180 quốc gia trên thế giới áp dụng thuế thu nhập cá nhân.
Có thể điểm qua một số quốc gia áp dụng thuế thu nhập cá nhân từ sớm như: Hà Lan từ năm 1797, Đức từ năm 1808. Các nước ở Đông Âu mới áp dụng như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992. Một số nước ở châu Đại Dương như Úc, Niu Di-lân bắt đầu áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên từ nửa cuối thế kỷ thứ 19. Tại châu Á, Nhật Bản áp dụng thuế thu nhập cá nhân từ năm 1887, Thái Lan năm 1939, Philippin năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984.
Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam được thi hành kể từ ngày 01/01/2009. Tính tất yếu của sự ra đời thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân vừa là một phạm trù kinh tế, vừa là một phạm trù lịch sử. Sự ra đời của thuế thu nhập cá nhân không chỉ dựa vào ý thức chủ quan của con người, mà còn phụ thuộc vào các nguyên nhân khách quan, được hình thành trong các điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể, trong các giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy, tính tất yếu của sự ra đời thuế thu nhập cá nhân được thể hiện trên hai giác độ: kinh tế và lịch sử.
SV: Nguyễn Quang Huy Lớp: Luật KDQT K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ Dưới giác độ lịch sử: thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng gắn với sự hình thành của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó.
Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Theo sự phát triển của xã hội loài người, Nhà nước đã thực hiện thu các loại thuế khác nhau, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Các quốc gia khi phải đối mặt với chiến tranh, tình trạng thâm hụt Ngân sách, hoặc cần thực hiện các mục tiêu của mình, đã nghĩ đến việc huy động nguồn lực từ dân cư để vượt qua khó khăn trước mắt. Thuế thu nhập cá nhân chính là công cụ mà Nhà nước đã sử dụng để giải quyết các tình trạng khó khăn này.
Dần dần, các quốc gia đã sử dụng thuế thu nhập cá nhân một cách thường xuyên, không chỉ để vượt qua giai đoạn khó khăn, mà còn để phát triển đất nước. Từ đó, thuế thu nhập cá nhân được ghi nhận là một loại thuế cố định, được Nhà nước thu hàng năm vào Ngân sách Nhà nước. Dưới giác độ kinh tế: thuế thu nhập cá nhân là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế. Có thể khái quát hai chức năng chính của thuế thu nhập cá nhân đối với nền kinh tế là phân phối lại thu nhập của người dân, đảm bảo công bằng xã hội, và tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
Sự ra đời của thuế thu nhập cá nhân thể hiện tính tất yếu của nó qua việc thực hiện hai chức năng trên. -Chức năng thứ nhất: tái phân phối lại thu nhập của dân cư, đảm bảo công bằng xã hội. Thuế thu nhập cá nhân ra đời sớm ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển như Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản… Chức năng này được Nhà nước thực hiện nhằm khắc phục điểm yếu của cơ chế kinh tế thị trường, đó là sự phân phối không đồng đều về thu nhập. Sự phân hoá giàu nghèo là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những bất ổn về kinh tế và chính trị.
Do đó, giai cấp thống trị ở các quốc gia phải tìm mọi cách khắc phục sự hạn chế này, trong đó có việc sử dụng thuế thu nhập cá nhân. -Chức năng thứ hai: tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Nhà nước trong quá trình hình thành và phát triển của mình phải thực hiện rất nhiều chức năng, nhiệm vụ: kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, y tế, giáo dục… Xã hội càng phát SV: Nguyễn Quang Huy Lớp: Luật KDQT K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ triển, nhu cầu của đất nước ngày càng tăng, đòi hỏi Nhà nước phải huy động mọi nguồn thu để đáp ứng nhu cầu đó.
Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, thuế đều là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước. Nhà nước ban đầu thường sử dụng các loại thuế có tính chất gián thu, đánh vào các hoạt động tiêu dùng là chủ yếu, nhằm tránh sự phản ứng từ người nộp thuế. Theo thời gian, thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao, người dân ngày càng có ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước, dân tộc. Đồng thời, Nhà nước cũng nhận thấy thuế thu nhập cá nhân có khả năng đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước.
Bởi vậy, Nhà nước đã sử dụng thuế thu nhập cá nhân để huy động thêm nguồn thu từ nhân dân, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Như vậy, thuế thu nhập cá nhân ra đời mang tính chất tất yếu trên cả hai giác độ kinh tế và lịch sử. Ngày nay, thuế thu nhập cá nhân ngày càng thể hiện sự quan trọng của mình, là một phần không thể thiếu trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia trên thế giới. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân 1.
Các khái niệm về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thu nhập cá nhân Để làm rõ khái niệm “thuế thu nhập cá nhân”, trước hết cần tìm hiểu khái niệm “thu nhập cá nhân”. Khái niệm “thu nhập cá nhân” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo các cách hiểu khác nhau. Theo hai nhà kinh tế học Hoa Kỳ Robert M.
Haig và Henry Calvert Simons, thu nhập cá nhân có thể được xác định như tổng đại số của giá trị thị trường của các quyền lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và những thay đổi về giá trị trong tổng thể các quyền sở hữu trong một thời gian nhất định. Khái niệm trên được thể hiện dưới dạng công thức, được gọi là công thức thu nhập Haig–Simons hay Schanz–Haig–Simons: I = C + ΔNW SV: Nguyễn Quang Huy Lớp: Luật KDQT K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ Trong đó, I là thu nhập, C là sự tiêu dùng, ΔNW là sự thay đổi của giá trị ròng. Một nhà kinh tế học Hoa Kỳ khác là Paul Anthony Samuelson thì cho rằng thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Từ các định nghĩa khác nhau có thể rút ra một số đặc điểm của “thu nhập cá nhân” như sau: -Thu nhập cá nhân mang tính sở hữu, luôn gắn liền với một chủ thể nhất định trong xã hội. -Thu nhập cá nhân được xác định trong một khoảng thời gian nhất định. -Thu nhập cá nhân được hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do Nhà nước và thị trường thực hiện. -Thu nhập cá nhân thường được biểu hiện dưới hình thức là tiền tệ.
Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc, các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp vào Ngân sách Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định.