CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM TẠI VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một thuật ngữ phổ biến nhưng tại mỗi quốc gia, tổ chức lại có sự khác biệt. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty.” Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF (1997): “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.” Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (1996): “FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp.” Còn UNCTAD (2007) xác định: “FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác.” 7 Theo World Bank (2022): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài đề đề cập đến dòng vốn đầu tư trực tiếp trong nền kinh tế báo cáo, là loại hình đầu tư xuyên biên giới liên quan đến việc một cư dân trong một nền kinh tế có quyền kiểm soát hoặc mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác. Họ sở hữu từ 10% trở lên số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư nhằm xác định sự tồn tại lâu dài của mối quan hệ đầu tư. Đặc điểm và phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận dài hạn.
Các nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp điều hành quản lý việc sử dụng vốn của mình. Họ quan tâm đến mọi hoạt động của tổ chức đó vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ. Thứ hai, hành lang pháp lý rõ ràng và các chính sách thu hút FDI hợp lý chính là một trong những tiêu chí quan trọng mà các nước nhận đầu tư cần phải có để thuận lợi hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội. Thứ ba, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ theo quy định luật pháp từng quốc gia.
Theo quy định của OECD (1996) thì nhà đầu tư cần sở hữu ít nhất 10% cổ phần có quyền biểu quyết hoặc tương đương. Chính vì thế họ sẽ có trách nhiệm với lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ này. Thứ tư, chủ đầu tư sẽ là người người có quyền tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu hách nhiệm về lỗ, lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị.
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với hoạt động luân chuyển vốn, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật thông qua việc đưa máy móc, thiết bị, sáng chế… vào nước nhận đầu tư để thực hiện dự án. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo động cơ nhà đầu tư FDI theo chiều ngang: đây là hình thức đầu tư khá phổ biến, trong đó nhà đầu tư tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và khai thác lợi thế độc quyền. Qua đó giúp mở rộng sản xuất hàng hóa cùng loại hoặc tương tự tại nước ngoài. FDI theo chiều dọc: là hình thức đầu tư theo hai mục đích khác nhau, từ đó có có sự hiện diện của 2 liên kết: FDI theo chiều dọc liên kết tiến và FDI theo chiều dọc liên kết lùi.
Nếu các nhà đầu tư muốn khai thác thị trường yếu tố đầu vào trong kinh doanh, tận dụng nguồn nguyên liệu giá rẻ thì được coi là liên kết lùi. Ngoài ra, nếu họ muốn xúc tiến thương mại, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm thì chính là liên kết tiến. FDI hỗn hợp: thực hiện đồng thời 2 chiến lược là quốc tế hóa và đa dạng hóa. Nhà đầu tư và đối tượng tiếp nhận hoạt động trong các lĩnh vực và ngành nghề khác nhau.
Nhờ đó giúp phân tán rủi ro, thâm nhập ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Theo định hướng nước nhận đầu tư FDI thay thế nhập khẩu: là hình thức DN FDI sản xuất mặt hàng mà trước đó phải nhập khẩu tại nước ngoài. Một số yếu tố tác động đến hình thức này như: rào cản thương mại, chi phí vận chuyển. FDI gia tăng xuất khẩu: liên quan tới hoạt động sản xuất, giúp nước nhận đầu tư tăng cường xuất khẩu nguyên liệu thô và hàng hóa sang quốc gia đi đầu tư và quốc gia khác.
Qua đó giúp thu hút ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; đồng thời đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc gia. FDI do Chính phủ khởi xướng: mục đích nhằm phát triển các ngành sản xuất còn yếu kém, các ngành kinh tế còn khó khăn và cải thiện cán cân thanh toán. Theo hình thức thâm nhập Đầu tư mới (Greenfield): là hình thức FDI, trong đó DN đầu tư thiết lập hoạt động sản xuất, phân phối hoặc cơ sở mới ở nước tiếp nhận đầu tư. Đây là loại hình được các quốc gia chào đón do nó mang lại cơ hội việc làm mới và nâng cao NSLĐ trong nước.
9 Mua lại và sáp nhập xuyên biên giới (M&A): nhà đầu tư mua lại hoặc hợp nhất hoạt động kinh doanh với một doanh nghiệp mục tiêu tại nước tiếp nhận đầu tư. Liên doanh: là hình thức mà nhà đầu tư hợp tác với DN địa phương, tổ chức Chính phủ hoặc với DN nước ngoài khác tại quốc gia đầu tư để thành lập một DN liên doanh. Các bên đối tác có thể bổ sung cho nhau nhằm giảm thiểu rủi ro quốc gia và tăng lợi nhuânh thu được. Theo mục tiêu chiến lược của nhà đầu tư FDI mở rộng: mục đích nhằm đẩy mạnh doanh số và lợi nhuận thông qua việc tận dụng lợi thế đặc thù của chính mình.
FDI phòng vệ: nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế chi phí sản xuất thông qua khai thác những nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ tại nước nhận đầu tư. Theo quan điểm của nhà kinh tế học Kojima FDI định hướng thương mại: là hình thức FDI có tác động tích cực đến hoạt động thương mại toàn cầu. FDI định hướng phi thương mại: là hình thức FDI có tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại toàn cầu. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nước nhận đầu tư 1.
Tác động tích cực Thứ nhất, FDI giúp thúc đẩy kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư. Nguồn vốn này không để lại gánh nợ cho Chính phủ như vốn viện trợ nước ngoài (ODA) hay vay thương mại; ngược lại còn giúp mở rộng quy mô hoạt động của DN trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh. Qua đó, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước. Thứ hai, FDI tạo ra cơ hội việc làm cho người dân.
Các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có quy mô hoạt động lớn và có nhu cầu tuyển dụng lao động để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp FDI đầu tư vào một quốc gia mới, họ sẽ tiến hành xây dựng nhà máy, văn phòng, nhà kho và các cơ sở hạ tầng khác nhau để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Điều này sẽ tạo ra nhu cầu tuyển thêm nhân để đáp ứng khối lượng công việc. 10 Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra nguồn thuế trực tiếp.
FDI thường phải trả thuế trực tiếp cho Chính phủ, bao gồm: thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác. Các nguồn thuế này đóng góp vào nguồn thuế của quốc gia nhận đầu tư. Nhờ vào việc thu nguồn thuế này từ các doanh nghiệp FDI đã đóng góp một số tiền khá lớn vào ngân sách Nhà nước, đây là một phần rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế. Thứ tư, FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
DN FDI thường đưa vào quốc gia nhận đầu tư các công nghệ tiên tiến và phương pháp quản lý hiện đại để nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh của các DN trong nước. Điều này cũng tạo cơ hội để người lao động tại nước nhận đầu tư học hỏi và tiếp cận với khoa học công nghệ, phương pháp làm việc mới nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phẩn truyền tải công nghệ và kiến thức. Các DN FDI có thể chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, quy trình sản xuất và các tài nguyên khác từ quốc gia đầu tư.
Điều này giúp cho các quốc gia nhận đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ giá trị cao hơn. Thứ sáu, FDI giúp nước nhận đầu tư tham gia vào mạng lưới sản xuất trên toàn cầu. Khi nhận được đầu tư từ các DN FDI, các DN trong nước cũng có cơ hội phát triển hơn bằng cách tiếp cận với máy móc, công nghệ tiên tiến.