CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE PHAN TÍCH THONG KE NGUON VON KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. Một số van đề chung về vốn kinh doanh 1. Khái niệm chung về vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn được ví như một chiếc chìa khóa khởi động cho mọi doanh nghiệp trước khi muôn vận hành bat kì một hoạt động kinh doanh nao. Đây được xem như là một điêu kiện tiên quyêt vô cùng quan trọng đê hoạt động kinh doanh có thê diễn ra.
Von trong tiêng Anh là “Capital” có nghĩa là “tư bản”, và khi nói vê khái niệm von trên thực tê có rat nhiêu quan điêm khác nhau, theo tiên trình lịch sử các quan điêm về vôn dân được hoàn thiện: Theo học thuyết kinh tế cô điển cho rằng: “Vốn là một trong các yếu to dé sản xuất kinh doanh (như đất dai, lao động, tiễn, .) vốn là các sản phẩm được sản xuất ra dé phục vụ cho sản xuất như (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,. Theo quan điểm này vốn được xem xét cưới góc độ hiện vật là chủ yếu quan điểm này khá đơn giản dễ hiểu tuy nhiên nó lại chưa nói lên được đặc điểm vận động cũng như vai trò của vôn trong sản xuât kinh doanh. Theo quan điểm của Marx: “Vốn (Tư bản) không phải là vật mà nó là giá trị đem lại giá trị thang dư, là đầu vào của quá trình sản xuất định nghĩa này có một tam khái quát lớn hon vì bao ham đầy đủ cả ban chất và vai trò của vốn”. Hiện nay có rất nhiều khái niệm về vốn kinh doanh và đây là khái niệm được định nghĩa trong giáo trình Thống kê doanh nghiệp: "Vốn kinh doanh chính là nguồn lực tài chính được doanh nghiệp huy động trong sản xuất, kinh doanh mà quá trình vận dụng chuyển hóa của chúng tạo nên các quỹ tiên tệ để doanh nghiệp có thể sử dụng chúng để tạo nên các loại tài sản của riêng minh” (Nguyễn Công Nhu, 2017) Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp tùy theo loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực hoạt động mà khác nhau.
Song nguồn lực chung cho mọi loại hình doanh nghiệp là: nguồn lực từ bên trong và nguồn lực từ bên ngoài doanh nghiệp. Phân loại vốn kinh doanh Dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau mà nguồn vốn của doanh nghiệp được phân loại khác nhau. Đây là một số thức phân loại điển hình nhất: 14 “> Xét từ nguồn hình thành e Vốn chủ sở hữu (VC) “Vốn chủ sở hữu (mã số 410) là nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tu góp vốn (vốn gop của chủ sở hữu), hoặc hình thành từ lợi nhuận sau thuế không chia (lợi nhuận sau thuế chưa phân phối), hoặc do tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mdi.” (Nguyén Công Nhu, 2017) Trong hau hết các loại hình doanh nghiệp, vốn góp của chủ sở hữu thường là thành phần giữ vị trí quan trọng trong vốn chủ sở hữu. s* No phải tra (NPT) “Là các khoản nợ phải sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả hay phải thanh toán từ các nguồn lực của mình cho các chủ nợ, gồm: vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, dài hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dung, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn, các khoản phải nộp cho nhà nước,.
” (Nguyễn Công Nhu, 2017) Tuy các khoản nợ phải trả không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng do chúng hợp pháp nên doanh nghiệp có thé coi chúng như nguồn vốn của mình. Vốn NPT của doanh nghiệp được trình bày trên báo cáo tài chính B01-DN gồm CÓ: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn thì thường chiếm tỉ trọng lớn hơn. Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ có thời hạn trả trong vòng một năm.
Nợ ngắn hạn bao gồm: người mua trả tiền trước ngắn hạn, phải trả người bán ngăn hạn, chi phí phải trả ngắn hạn, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả nội bộ ngắn hạn, phải trả ngắn hạn khác, phải trả người lao động, phải trả theo tiền độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn, dự phòng phải trả ngắn hạn, vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ, quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ bình 6n giá. Nợ dài hạn: là các khoản nợ có thời hạn trả trên một năm. Nợ dài hạn bao gồm: người mua trả tiền trước dài hạn, phải trả người bán dài hạn, vay và nợ thuê tài chính, chi phí phải trả dai hạn, phải trả dai hạn khác, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu chuyền đổi, thuế thu nhập hoãn lại phải trả,. 15 s* Xét theo quá trình luân chuyến tiền tệ e_ Vốn lưu động: Vôn lưu động của doanh nghiệp là sô vôn tiên tệ ứng trước đê đâu tư, mua săm tài sản lưu động của doanh nghiệp, nhăm đảm bảo cho quá trình sản xuât kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục.
Do các tài sản lưu động có thời gian sử dụng ngắn nên vốn lưu động cũng luân chuyên nhanh. Hình thái biéu hiện của vốn lưu động luôn thay đổi qua các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ hình thái này qua hình thái khác rồi về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn. Kết thúc mỗi chu kỳ kinh doanh, giá trị của vốn lưu động được chuyên dịch toàn bộ, một lần vào giá tri sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Quá trình này diễn ra thường xuyên, liên tục và được lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn, chu chuyên của vốn lưu động.
e Vốn có định Vốn cô định (VCD) là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra dé đầu tư hình thành nên các tài sản có định (TSCĐ) dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn cô định là biểu hiện bằng tiền của các tài sản cô định trong doanh nghiệp. Vốn có định luân chuyên qua nhiều kì sản xuất kinh doanh là do các khoản đầu tư đài hạn và TSCĐ tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. s* Xét từ khía cạnh sử dung e Vốn sản xuất (VSX): là số vốn doanh nghiệp đang sử dụng vào mục đích kinh doanh chính.
Vốn sản xuất cũng được chia ra làm VSX dài hạn và VSX ngắn hạn. e Vốn dau tư tài chính: “Vốn dau tư tài chính là bộ phận còn lại của tổng nguồn von (sau khi đã khấu trừ di vốn sản xuất). Von dau tư tài chính của doanh nghiệp bao gồm các hạng mục vốn doanh nghiệp đã dau tư (mà trong báo cáo tài chính BOI - DN) được xếp vào: dau tư tài chính ngắn hạn; dau tự tài chính dai han; và chỉ phí xây dựng cơ bản dở dang thuộc tài san do’ dang động dài hạn ” (Nguyễn Công Nhự, 2017) 16 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy vào mục đích của người nghiên cứu. Trong chuyên đề này, vốn kinh doanh được phân tích theo nguồn hình thành và quá trình lưu chuyên tiền tệ với mục đích tính toán các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn để biết rằng doanh nghiệp có đang sử dụng vốn một cách hiệu quả hay còn đang lãng phí? Đề từ đó đề ra các giải pháp giải quyết những van đề còn hạn chế trong van đề sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Vai trò của vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp Vốn là một “phạm trù kinh tế”, nó là điều kiện tiên quyết cho bat cứ doanh nghiệp với bất ké ngành nghề kinh doanh nào trong nền kinh tế. Dé có thé bắt đầu một hoạt động kinh doanh nào đó đầu tiên doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định. Số vốn này thé hiện giá tri của toàn bộ tài san cũng như các nguồn lực của doanh nghiệp. Cụ thể: - Vốn là tiền đề cho sự thành lập loại hình doanh nghiệp nó có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định.
Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Tuy vào nguồn của vốn kinh doanh của từng doanh nghiệp kết hợp với phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cô phần, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp liên doanh. -Vốn kinh doanh cũng là một trong số những tiêu thức dé phân loại quy mô của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình. - Vốn kinh doanh tạo ra điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Vốn cũng là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản doanh nghiệp. Vốn là cầu nối giúp doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, mở rộng và phát triển thị trường lưu thông hàng hoa. Cũng chính bởi vậy mà các thương nhân có câu ví rằng “buôn tài không bằng dài von”. ” - Trong co ché thi trường mới hiện nay, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh được dé cao và mở rộng, vốn kinh doanh chính là co sở căn cứ dé doanh nghiệp có thé tính toán, hoạch định dé ra các kế hoạch và chiến lược tiếp theo cho mình.
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong nên kinh tê thị trường hiện nay Khi muốn đánh giá về trình độ quản lý, điều hành của một công ty hay một doanh nghiệp người ta sẽ sử dụng thước đo “hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh”. Đây là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của một doanh nghiệp và vốn kinh doanh chính là nguồn lực có tác động trực tiếp và rất mạnh đến “hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh đoanh”. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với mỗi doanh nghiệp, nó mang tính tính thường xuyên và bắt buộc đối với bat kì doanh nghiệp muôn tôn tại và tìm cho mình một chỗ đứng trên thị trường.