ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vai trò, vị trí của nguồn lực con người trở nên rất quan trọng đối với quá trình phát triển của một quốc gia hay một địa phương. Nguồn lực con người (nguồn nhân lực) là yếu tố then chốt quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kì một tổ chức nào. [50] Y tế là một ngành đặc thù của xã hội, liên quan đến tính mạng, sức khoẻ con người. Trong đó, nguồn nhân lực y tế được xem là một phần quan trọng của cả hệ thống, là yếu tố chính đảm bảo hiệu quả, chất lượng dịch vụ y tế.
Số lượng và chất lượng của nhân viên y tế có liên quan mật thiết đến chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và chất lượng khám chữa bệnh nói riêng [17]. Do đó đòi hỏi phải có đủ đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ về chuyên môn cũng như quản lý, đa dạng về các chuyên khoa, chuyên ngành. Bên cạnh đó, không chỉ cần tập trung vào phát triển nguồn lực mà còn cần quan tâm đến cả tính hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực. Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tăng cường công bằng trong CSSK và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực [16, 46].
Hiện tại, ngành y tế ở nước ta đang đối mặt với các thách thức về NLYT như: thiếu nghiêm trọng về số lượng lẫn chất lượng cán bộ y tế, phân bố chưa đồng đều giữa các vùng miền, có sự dịch chuyển một bộ phận cán bộ y tế có trình độ cao sang khu vực y tế tư nhân, năng lực quản lý của cán bộ y tế ở các cấp còn khá hạn chế, công tác quản lý nhân lực tại các bệnh viện chưa được quan tâm đúng mức [56]. Thủ Đức là một quận ngoại thành nằm ở cửa ngõ đông bắc thành phố Hồ Chí Minh. Quận Thủ Đức giáp ranh với 5 quận khác và tỉnh Bình Dương với diện tích 4779,89 hecta [42] và dân số gần 600. Đây là nơi tập trung nhiều công ty, xí nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn với số lượng công nhân và dân nhập cư từ các tỉnh đông nên nhu cầu chăm sóc sức khỏe là rất lớn.
Hệ thống khám chữa bệnh có 02 bệnh viện đa khoa công lập, 4 2 phòng khám tư nhân, 01 trung tâm y tế, 02 bệnh viện tư nhân (dự kiến hoạt động trong năm 2020). Bệnh viện quận Thủ Đức là bệnh viện hạng I, trực thuộc sự quản lý của UBND quận. Bệnh viện có diện tích nhỏ hẹp (khoảng 1,4 hecta), cơ sở vật chất xuống cấp nhưng bình quân mỗi ngày tiếp nhận khoảng 150-200 trường hợp cấp cứu, 5000 - 6000 lượt khám ngoại trú với 800 giường kế hoạch. Việc phải tiếp đón một lượng bệnh nhân lớn trong cơ sở vật chất xuống cấp gây ra áp lực không nhỏ cho đội ngũ nhân viên y tế bệnh viện.
Số lượng nhân sự bệnh viện tăng nhanh, trong đó độ tuổi trẻ chiếm tỷ lệ cao. Mặc dù số lượng nhân lực y tế hiện nay đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, tuy nhiên vẫn có một số lượng bác sĩ, điều dưỡng nghỉ việc. Cụ thể, trong giai đoạn 2015-2019 có 585 nhân viên nghỉ việc, trong đó có 42 người có trình độ sau đại học (theo số liệu phòng TCCB BV quận Thủ Đức). Từ đầu năm 2017, bệnh viện thực hiện tự chủ tài chính, bảo đảm chi thường xuyên, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý nhân sự của đơn vị.
Trong thời gian tới, việc một số bệnh viện tư nhân trong khu vực bắt đầu đi vào hoạt động cũng sẽ phần nào ảnh hưởng đến sự chuyển dịch nhân sự y tế chất lượng cao từ khu vực công sang tư. Trong bối cảnh đó, với mục đích tiếp tục xây dựng bệnh viện theo định hướng bệnh viện đa khoa chuyên sâu hoàn chỉnh, để tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chuyên môn, cần phải tiếp tục thu hút nguồn lực, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị đồng thời quản lý tốt nguồn nhân lực. Để có thêm thông tin về thực trạng nguồn nhân lực tại bệnh viện quận Thủ Đức, từ đó đề xuất một số giải pháp xây dựng nguồn nhân lực, tôi thực hiện đề tài “Thực trạng nguồn nhân lực và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận Thủ Đức giai đoạn 2015 - 2019". Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần là cơ sở xây dựng chiến lược phát triển bệnh viện trong những năm tiếp theo.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực tại bệnh viện quận Thủ Đức trong giai đoạn 2015-2019. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực y tế tại bệnh viện quận Thủ Đức. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số định nghĩa và khái niệm về nhân lực, nguồn nhân lực và quản lý nhân lực sử dụng trong nghiên cứu Nhân lực: Là lực lượng con người hay nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực và trí lực. [50] Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo một mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như tương lai. Nguồn nhân lực cũng phản ánh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia khu vực và trên thế giới [50].
Nguồn nhân lực y tế: được xem là một phần quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính đảm bảo hiệu quả, chất lượng dịch vụ y tế. Nguồn NLYT có mối liên quan rất chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế. Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tăng cường công bằng trong CSSK và nâng cao hiệu quản sử dụng nguồn nhân lực [16]. Theo định nghĩa của WHO năm 2006: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.
Theo đó, NLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: Bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y.); những người làm việc trong ngành y tế và những ngành khác (quân đội, trường học, các doanh nghiệp). [85] Như vậy mọi nhân viên của bệnh viện đều là nhân lực y tế. Ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là nhân lực y tế bao bồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và 5 cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân, các cộng tác viên y tế, lương y, bà đỡ, mụ vườn…[16].
Tuyển dụng: Là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, công ty, hoặc một chương trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng [47]. Đào tạo: Là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định [47]. Phát triển nguồn nhân lực: Là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kịnh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân [47]. Quản lý nguồn nhân lực: Quản lý nhân lực được hiểu là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý nhân sự đến các khách thể quản lý nhân sự nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra, bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người.
QLNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết theo các mục tiêu nhất định [47, 59]. Quản lý nguồn nhân lực y tế: Được đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức, cung cấp các dịch vụ y tế, được xem là một hướng tiếp cận chiến lược liên kết vấn đề phát triển con người với việc đạt được các mục tiêu tổ chức cung cấp các dịch vụ y tế [47]. Quản lý NLYT đề cập đến các yếu tố như quy hoạch, việc đào tạo, sử dụng quản lý và nâng cao năng lực chuyên môn. Xác định duy trì phát triển kiến thức và năng lực của nhân viên y tế, khuyến khích sự tham gia và trao quyền cho nhân viên.
Tất cả các yếu tố này đều có tác động tới kết quả hoạt động và cung cấp dịch vụ [47]. Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực y tế 1. Tính chất đặc thù của nhân lực y tế: Tính chất nghề nghiệp của lao động y tế hết sức đặc biệt, liên quan đến tính mạng, sức khoẻ con người. Người cán bộ y tế trước hết phải nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ qua thời gian đào tạo nghiêm túc với thời gian dài hơn các ngành khác.
Bên cạnh đó, người cán bộ y tế cần có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả hy sinh và trách nhiệm cao với công việc. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu về đặc trưng của nghề y: “Ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc gia đình. Lao động ngành y là loại lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao, áp lực công việc lớn, cường độ làm việc liên tục không phù hợp của quy luật sinh lý con người.