Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam, nâng cao năng suất lao động được xác định là một trong những mục tiêu chiến lược hàng đầu đối với cộng đồng doanh nghiệp nói chung và khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nói riêng. Mặc dù cơ cấu kinh tế đang có những bước chuyển dịch tích cực nhưng tốc độ nhìn chung vẫn còn chậm; các ngành công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn như tài chính, tín dụng, du lịch chiếm tỷ trọng chưa cao. Thực tế hoạt động sản xuất của các DNNVV bộc lộ nhiều hạn chế: chủng loại mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng gặp nhiều rào cản, việc áp dụng công nghệ mới và mở rộng quy mô diễn ra chậm, khiến phần lớn doanh nghiệp khó tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tính đến thời điểm ngày 01/01/2017, số lượng doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tăng trưởng mạnh so với năm 2012: doanh nghiệp vừa tăng 23,6%, doanh nghiệp nhỏ tăng 21,2%, doanh nghiệp siêu nhỏ tăng 65,5% và chiếm gần 3/4 tổng số doanh nghiệp. Khối DNNVV đã tạo ra hơn 5 triệu việc làm cho thị trường lao động, đóng góp xấp xỉ 45% GDP và 31% vào ngân sách nhà nước. Dù tốc độ tăng năng suất lao động của khu vực này tương đối cao và ổn định, song việc thiếu hụt máy móc thiết bị chuyên dụng và hạn chế trong hoạt động đổi mới sản phẩm vẫn là những nút thắt lớn. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Phân tích mối liên hệ giữa ba yếu tố: Sản xuất, công nghệ và năng suất lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015" được thực hiện nhằm lượng hóa tương quan giữa các yếu tố then chốt này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Đánh giá thực trạng của các yếu tố sản xuất, công nghệ và năng suất lao động của khối DNNVV trong năm 2015.
  2. Đánh giá và lượng hóa mối liên hệ giữa ba yếu tố sản xuất, công nghệ và năng suất lao động của các DNNVV năm 2015.
  3. Đề xuất các hàm ý giải pháp nhằm tận dụng lợi ích từ mối liên hệ này để nâng cao năng suất, thúc đẩy tăng trưởng và tạo điều kiện cho DNNVV phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Cả hai khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức trong lĩnh vực sản xuất (chủ yếu là công nghiệp chế biến, chế tạo ngoài quốc doanh) tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; dữ liệu phân tích tập trung vào cuộc điều tra năm 2015 có đối chiếu, so sánh với cuộc điều tra năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn phân loại quốc tế và các lý thuyết kinh tế về sản xuất, công nghệ và năng suất:

  • Khái niệm và phân loại DNNVV: Tác giả đối chiếu tiêu chí phân chia của Nhóm Ngân hàng Thế giới (chia theo nguồn vốn và lao động: siêu nhỏ dưới 10 người, nhỏ từ 10 đến dưới 200 người và vốn dưới 20 tỷ đồng, vừa từ 200 đến 300 người và vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng) với khung pháp lý của Việt Nam quy định tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP (quy định chi tiết theo từng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và thương mại, dịch vụ dựa trên số lao động tham gia BHXH bình quân năm, tổng nguồn vốn và tổng doanh thu năm).
  • Hoạt động sản xuất: Tiếp cận theo định nghĩa Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) và hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam ban hành năm 2007, cập nhật theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2018 (phân loại hoạt động sản xuất chính theo ngành cấp 1).
  • Công nghệ và vai trò công nghệ: Sử dụng định nghĩa theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam và khái niệm tổng quát của UN-ESCAP; nhận diện vai trò của công nghệ qua ba phương diện: mở rộng năng lực sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng năng lực cạnh tranh thị trường.
  • Năng suất lao động (NSLĐ): Được xác định theo công thức: $$\text{NSLĐ} = \frac{\text{Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ}}{\text{Số lao động toàn thời gian}}$$ Trong đó, lao động toàn thời gian được tính theo quy định chuẩn là 8 giờ/ngày và 5 ngày/tuần.
  • Nguồn dữ liệu: Bộ dữ liệu điều tra DNNVV qua các năm do Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA - MOLISA) phối hợp với Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Trường Đại học Copenhagen (DoE) và Viện Nghiên cứu Kinh tế Phát triển Thế giới thuộc Đại học Liên Hợp Quốc (UNU-WIDER) thực hiện.

Phương pháp phân tích kinh tế lượng và thống kê:

  • Phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi dữ liệu bảng hai thời kỳ (2013 và 2015).
  • Mô hình Probit hiệu ứng biên (Marginal Effects) để phân tích các yếu tố quyết định xác suất đa dạng hóa sản phẩm ($N = 4.147$) và xác suất cải tiến sản phẩm hiện có ($N = 4.151$).
  • Mô hình hồi quy OLS (ước lượng tăng trưởng việc làm) và mô hình Probit (ước lượng khả năng rút lui khỏi thị trường) dưới tác động của đổi mới sản phẩm và công nghệ.
  • Mô hình hồi quy Logistic phân tích các nhân tố tác động đến kế hoạch ra sản phẩm mới ($N = 2.628$).
  • Mô hình OLS ước lượng hàm tăng trưởng năng suất lao động giai đoạn 2013–2015 ($N = 1.921$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về mối liên hệ giữa sản xuất, công nghệ và năng suất lao động

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về DNNVV, môi trường kinh doanh, bản chất của quá trình sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động (bao gồm nhóm yếu tố gắn liền với tư liệu sản xuất, người lao động và tổ chức lao động). Tác giả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước:

  • Nghiên cứu tại Chile (Innovation Performance Of Chilean SMEs: A Bivariate Probit Analysis) chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa tài sản dựa trên tri thức (R&D, mạng lưới, quản lý chất lượng) với hiệu suất đổi mới, đồng thời nhấn mạnh rào cản nguồn lực ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ.
  • Nghiên cứu tại Macedonia (SMEs And Innovation – Case Of Macedonia) khuyến nghị việc bảo lãnh tín dụng, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ thể chế để kích thích đổi mới sáng tạo.
  • Tại Việt Nam, nghiên cứu của TS. Phan Quốc Nguyên (ĐHQG Hà Nội) khẳng định vai trò dự báo và quản trị rủi ro của quản trị công nghệ, trong khi ThS. Nguyễn Thị Duyên chỉ ra những khoảng trống trong việc thực thi chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp địa phương.

Chương 2: Thực trạng hoạt động sản xuất, công nghệ và năng suất lao động của doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2015

Chương 2 trình bày chi tiết về quy trình chọn mẫu và đặc điểm phân bố của mẫu điều tra năm 2015 trên địa bàn 10 tỉnh, thành phố:

Địa bàn Siêu nhỏ (DN) Tỷ lệ (%) Nhỏ (DN) Tỷ lệ (%) Vừa (DN) Tỷ lệ (%) Tổng số (DN)
Hà Nội 166 56,10 111 37,50 19 6,40 296
Hà Tây 274 73,90 80 21,60 17 4,60 371
Hải Phòng 151 68,90 48 21,90 20 9,10 219
TP. Hồ Chí Minh 377 57,80 207 31,70 68 10,40 652
Khánh Hòa 72 73,50 18 18,40 8 8,20 98
Lâm Đồng 70 74,50 21 22,30 3 3,20 94
Long An 106 79,70 22 16,50 5 3,80 133
Nghệ An 288 84,70 39 11,50 13 3,80 340
Phú Thọ 239 94,10 10 3,90 5 2,00 254
Quảng Nam 146 85,40 20 11,70 5 2,90 171
Tổng cộng 1.889 71,90 576 21,90 163 6,20 2.628

Về hình thức pháp lý, mẫu khảo sát gồm: Hộ kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất với 1.664 cơ sở; Công ty TNHH có 626 doanh nghiệp; Doanh nghiệp tư nhân có 167 đơn vị; Công ty cổ phần không vốn nhà nước có 117 đơn vị; Công ty hợp danh và Hợp tác xã lần lượt là 4 và 50 đơn vị. Xét theo cơ cấu ngành nghề, ngành Chế biến thực phẩm và đồ uống chiếm tỷ lệ lớn nhất (31,8% - 836 DN), tiếp đến là Sản phẩm kim loại đúc sẵn (17,0% - 448 DN) và Sản phẩm từ gỗ (11,1% - 291 DN). 98,7% doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất và 96,0% cơ sở nằm ngoài các khu công nghiệp tập trung.

Thực trạng ghi nhận:

  • Tỷ lệ sản phẩm hỏng trong sản xuất còn dao động từ 5–7%.
  • Theo khảo sát của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2014, số nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong khu vực DNNVV chỉ chiếm 0,025% tổng lao động; 80–90% máy móc là nhập khẩu, 76% sản xuất từ thập niên 1980–1990 và 75% trang thiết bị đã hết khấu hao.
  • Tỷ lệ sử dụng dịch vụ phát triển kinh doanh còn thấp: Dịch vụ vận tải đạt 16,4%; Thuế, kế toán, kiểm toán đạt 2,7%; Tiếp thị quảng cáo đạt 2,2%; trong khi dịch vụ thông tin công nghệ chỉ đạt 0,3% và pháp lý đạt 0,4%.

Chương 3: Phân tích mối quan hệ giữa sản xuất, công nghệ và năng suất lao động của DNVVN ở Việt Nam năm 2015

Chương 3 tập trung kiểm định định lượng các tương quan cốt lõi:

  1. Đa dạng hóa sản phẩm và đổi mới: Trong 2.628 doanh nghiệp năm 2015, có 88,4% không đa dạng hóa (chỉ sản xuất 1–2 sản phẩm), 11,6% (305 DN) có thực hiện đa dạng hóa. Tỷ lệ giới thiệu sản phẩm mới đạt 23,8% (626 DN) và cải tiến sản phẩm hiện có đạt 13,2% (347 DN). Đa dạng hóa và đổi mới có tác động tích cực rõ rệt đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp có quy mô từ 150 lao động trở lên.
Khó khăn khi ra sản phẩm mới Tỷ lệ (%)
Thiếu vốn 46,4
Thiếu thị trường tiêu thụ 27,7
Thiếu máy móc / thiết bị phù hợp 9,5
Khó khăn tìm kiếm cơ sở phù hợp 4,2
Thiếu lao động có tay nghề 2,8
Quy định của Chính phủ phức tạp 2,5
Thiếu nguyên liệu 2,3
Yếu tố khác 2,1
Thái độ tiêu cực của quan chức địa phương 1,4
Thiếu bí quyết kỹ thuật 1,2
  1. Kết quả mô hình kinh tế lượng về đổi mới và việc làm:
  • Mô hình Probit chỉ ra rằng hộ kinh doanh thành thị ít có khả năng đa dạng hóa (hệ số $-0,063$, mức ý nghĩa 1%) và cải tiến sản phẩm hơn khu vực nông thôn. Doanh nghiệp phía Nam ít đa dạng hóa hơn phía Bắc (hệ số $-0,020$, $p < 0,05$) nhưng lại có xu hướng cải tiến sản phẩm hiện có.
  • Cải tiến sản phẩm hiện có làm tăng trưởng việc làm thêm 5,0% ($p < 0,05$) và giảm xác suất rút lui khỏi thị trường 6,0% ($p < 0,01$).
  • Mô hình hồi quy Logistic cho thấy hàng tích lũy tồn kho tác động có ý nghĩa thống kê ($p < 0,001$, hệ số $0,395$) đến quyết định hoãn hoặc điều chỉnh kế hoạch ra sản phẩm mới nhằm ưu tiên giải phóng tồn kho.
  1. Biến động năng suất lao động giai đoạn 2013–2015:
  • Tốc độ phát triển NSLĐ chung đạt 1,10 lần (tăng 10%). Doanh nghiệp quy mô vừa có tốc độ phát triển cao nhất (1,20 lần, tương ứng tăng 20%). Phía Nam đạt tốc độ phát triển 1,13 lần (tăng từ 165,2 lên 224,3 triệu đồng/người).
  • Phân theo ngành: May mặc có tốc độ tăng NSLĐ cao nhất (1,18 lần, tăng trên 30 triệu đồng/người), Kim loại đúc sẵn (1,15 lần), Nội thất (1,12 lần). Ngành Cao su có mức NSLĐ cao nhất nhưng sụt giảm 20,1 triệu đồng/người giữa hai kỳ khảo sát.
  • Mô hình ước lượng tăng trưởng NSLĐ (Bảng 3.8) khẳng định việc giới thiệu sản phẩm mới (hệ số $+0,09$) và cải tiến sản phẩm (hệ số $+0,054$) có mối liên hệ thuận chiều với gia tăng NSLĐ.
  1. Đặc tính trang thiết bị, công nghệ và hiệu suất sản xuất:
  • 99,5% doanh nghiệp sở hữu toàn bộ máy móc đang vận hành (86,0% tự tài trợ, 13,4% vay vốn tín dụng). 91,6% thiết bị được cung ứng từ các doanh nghiệp tư nhân khác trong nước.
  • 74,5% thiết bị thuộc loại bán tự động (điều khiển kết hợp tay và điện), 19,6% chạy hoàn toàn bằng điện, máy vận hành thuần túy bằng tay chiếm 5,1%. 36,42% thiết bị có tuổi thọ từ 6–10 năm và 32,58% có tuổi thọ từ 3–5 năm. Tỷ lệ đầu tư mua máy mới là 82,98%, mua lại máy đã qua sử dụng là 15,64%, tự chế tạo chiếm 1,38%.
  • Giới thiệu công nghệ mới làm tăng trưởng lao động (hệ số OLS $+0,051$, $p < 0,05$) và giảm khả năng rút lui khỏi thị trường (hệ số Probit mang dấu âm có ý nghĩa).
  • Về hiệu suất sử dụng năng lực sản xuất: 40,1% doanh nghiệp hoạt động ở mức trên 10% công suất; 36,0% đạt từ 10–25%; 18,7% đạt từ 25–50%; chỉ có 5,2% doanh nghiệp đạt hiệu suất từ 50% công suất thiết kế trở lên. 57,10% thiết bị có nguồn gốc nước ngoài (chủ yếu nhập khẩu gián tiếp chiếm 55,39%), 42,89% là nguồn cung trong nước.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Khái quát cấu trúc đổi mới của DNNVV: Đa số doanh nghiệp có mức độ chuyên môn hóa hẹp, tỷ lệ đa dạng hóa thấp (11,6%), doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn cải tiến sản phẩm hiện có (13,2%) hơn là giới thiệu sản phẩm hoàn toàn mới do áp lực về nguồn lực.
  • Xác định các rào cản kỹ thuật và tài chính: Nghiên cứu đã lượng hóa ba điểm nghẽn lớn nhất trong việc phát triển sản phẩm mới: thiếu hụt nguồn vốn tài chính (46,4%), thiếu thị trường tiêu thụ (27,7%) và thiếu máy móc thiết bị chuyên dụng phù hợp (9,5%).
  • Lượng hóa tác động tương hỗ giữa công nghệ, sản xuất và năng suất:
    • Đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất không làm suy giảm quy mô lao động mà có tác động thuận chiều tới tăng trưởng việc làm (hệ số $+0,051$), đồng thời nâng cao khả năng sinh tồn của doanh nghiệp trên thị trường.
    • Cải tiến sản phẩm hiện có giúp giảm 6,0% nguy cơ rời thị trường của DNNVV.
    • Việc đưa vào quy trình sản xuất các sản phẩm mới và sản phẩm cải tiến đóng góp trực tiếp vào mức tăng năng suất lao động trong giai đoạn 2013–2015.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết và toàn diện về hiện trạng công nghệ, năng lực sản xuất và năng suất lao động của khối DNNVV sản xuất ngoài quốc doanh tại Việt Nam thông qua bộ dữ liệu quy mô lớn ($2.628$ quan sát).
  • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng vi mô (Probit, Logistic, OLS) để chứng minh tính quy luật trong mối quan hệ giữa công nghệ, đa dạng hóa và năng suất lao động thay vì chỉ sử dụng thống kê mô tả đơn thuần.

Đề xuất giải pháp của tác giả

  • Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và mở rộng các chương trình bảo lãnh tín dụng nhằm giúp DNNVV tiếp cận nguồn vốn đầu tư công nghệ mới.
  • Xây dựng các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, dịch vụ thông tin công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng thiết bị máy móc chuyên dụng cho các ngành sản xuất trọng điểm.
  • Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu suất sử dụng năng lực sản xuất để khắc phục tỷ lệ sản phẩm lỗi hỏng (5–7%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu: Mẫu khảo sát tập trung chủ yếu vào 10 tỉnh, thành phố và tập trung vào khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; chưa bao quát các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khối doanh nghiệp nhà nước.
  • Cấu trúc mẫu lệch về quy mô siêu nhỏ: Khối hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tỷ trọng áp đảo ($71,9%$), trong khi các doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm $6,2%$, có thể làm giảm mức độ đại diện cho các doanh nghiệp có mức độ cơ giới hóa cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu sang chuỗi dữ liệu bảng dài hạn hơn ở các giai đoạn tiếp theo; bổ sung thêm các phân tích chuyên sâu về tác động của chuyển đổi số và nghiên cứu chi tiết hơn cho từng phân ngành công nghiệp chế tạo đặc thù.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên: Là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Thống kê kinh tế, Kinh tế học, Quản trị kinh doanh về phương pháp xử lý dữ liệu điều tra vi mô, kỹ thuật xây dựng và đọc kết quả các mô hình hồi quy kinh tế lượng (OLS, Probit, Logistic).
  • Đối với nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách: Cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm về thực trạng thiết bị máy móc, công nghệ và các rào cản nội tại của khối DNNVV sản xuất tại Việt Nam năm 2015, phục vụ việc xây dựng chính sách phát triển doanh nghiệp và đổi mới công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Dữ liệu điều tra năm 2015 của đề tài được thu thập với quy mô và địa bàn như thế nào?

Cuộc điều tra năm 2015 thu thập thông tin từ 2.628 doanh nghiệp sản xuất ngoài quốc doanh phân bổ tại 10 tỉnh, thành phố: Hà Nội (296 DN), Hà Tây (371 DN), Hải Phòng (219 DN), TP. Hồ Chí Minh (652 DN), Khánh Hòa (98 DN), Lâm Đồng (94 DN), Long An (133 DN), Nghệ An (340 DN), Phú Thọ (254 DN) và Quảng Nam (171 DN).

2. Cơ cấu quy mô doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu được phân chia ra sao?

Mẫu khảo sát gồm 1.889 doanh nghiệp siêu nhỏ (chiếm 71,9%), 576 doanh nghiệp nhỏ (chiếm 21,9%) và 163 doanh nghiệp vừa (chiếm 6,2%). Hộ kinh doanh là hình thức pháp lý phổ biến nhất với 1.664 đơn vị (chiếm 63,3%).

3. Những nguyên nhân chính cản trở DNNVV ra sản phẩm mới là gì?

Ba trở ngại lớn nhất được ghi nhận gồm: thiếu vốn (46,4% doanh nghiệp gặp phải), thiếu thị trường tiêu thụ đầu ra (27,7%) và thiếu máy móc, thiết bị sản xuất phù hợp (9,5%). Các nguyên nhân khác như thiếu lao động tay nghề, thủ tục giấy tờ hay thiếu nguyên liệu chiếm tỷ lệ nhỏ từ 1,2% đến 4,2%.

4. Việc giới thiệu công nghệ mới có làm sụt giảm lao động trong các DNNVV không?

Kết quả ước lượng mô hình OLS trong đề tài cho thấy việc giới thiệu công nghệ mới (máy móc thiết bị hoặc quy trình sản xuất mới) có hệ số tương quan dương ($+0,051$, có ý nghĩa thống kê ở mức 5%) với tăng trưởng lao động, chứng minh rằng đổi mới công nghệ không đồng nghĩa với việc cắt giảm lao động mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tăng trưởng quy mô và giảm xác suất rút lui khỏi thị trường.

5. Thực trạng sở hữu và đặc tính công nghệ của các DNNVV trong mẫu khảo sát như thế nào?

Có tới 99,5% doanh nghiệp sở hữu toàn bộ máy móc đang vận hành (86,0% tự tài trợ mua sắm); 74,5% máy móc là loại bán tự động điều khiển kết hợp điện và tay; 82,98% máy móc được mua mới nhưng 57,10% là thiết bị có xuất xứ nước ngoài (chủ yếu qua kênh nhập khẩu gián tiếp chiếm 55,39%). Phần lớn máy móc có tuổi đời hoạt động từ 3 đến 10 năm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Thị Tú đã phân tích toàn diện thực trạng và mối quan hệ giữa sản xuất, công nghệ và năng suất lao động của khối DNNVV tại Việt Nam năm 2015 dựa trên mẫu khảo sát 2.628 doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu khẳng định đổi mới công nghệ, cải tiến sản phẩm và mở rộng quy mô là những động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng việc làm và nâng cao năng suất lao động, đồng thời giảm thiểu rủi ro rời bỏ thị trường. Những phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc hoạch định các chính sách hỗ trợ vốn, nâng cao năng lực công nghệ và hoàn thiện môi trường kinh doanh cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa.