Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV Chương 2. Hiện trang đảm bảo thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV (qua điều tra tai Hà Nội và Vĩnh Phúc) Chương 3. Dé xuất việc xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA CHÍNH SÁCH THONG TIN HO TRỢ ĐÓI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khoa học: Từ điển Larousse (2002) của Pháp định nghĩa: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”. Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986) định nghĩa: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”, “Là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và cả những kêt quả của các hoạt động đó”.
Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006) định nghĩa: “Khoa hoc là một hoạt động nghiên cứu va kiến thức về thế giới vật ly và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”. Tiếp theo định nghĩa này, trong từ điển MacMillan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu (an area of study) sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu (a subject), chăng hạn, vật lý học, hóa học. Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001) định nghĩa: “Khoa học là một study về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ công việc nghiên cứu”. Con study thì được định nghĩa là một “activities of studying”, nghĩa là một loại hoạt động.
Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994) định nghĩa: Khoa học là “any systematic field of study”, nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống và “nhăm sản xuat ra (to produce) các tri thức”. 10 Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994) định nghĩa: “Khoa học là một thiết chế xã hội” (Nguyễn Khắc Viện gọi là thê chế xã hội). Định nghĩa này dựa trên nghiên cứu của một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, D. Như vậy, về cơ bản có 4 định nghĩa về khoa học dựa trên các cách tiếp cận sau”: « Khoa học là một hệ thống các tri thức.
« Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức. ¢ Khoa học là một hình thái ý thức xã hội. ¢ Khoa học là một thiết chế xã hội. Cả bốn khái niệm trên đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của những người làm nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, khái niệm khoa học được hiểu là “/ữnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gôm tất cả những diéu kiện và những yếu to của sự sản xuất này” (Từ điển Triết học của Liên Xô - bản tiếng Việt, 1975). Công nghệ: Công nghệ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "techne" có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu. Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ dé sản xuất ra của cải vật chất. Cho đến bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về công nghệ.
Có thé xem xét một số định nghĩa sau’: Dinh nghĩa 1: Theo tác giả F.Root, "công nghệ là dạng kiên thức có thê áp dụng được vào việc sản xuât ra các sản phâm và sáng tạo ra các sản phâm mới", như vậy, bản chât của công nghệ là dạng kiên thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuât và tạo ra các sản phâm mới. ? Vũ Cao Đàm, “Định nghĩa khai niệm "khoa học" trong Luật khoa hoc và công nghệ nên nhự thế nao?". Tạp chí Hoạt động khoa học SỐ tháng 5 năm 2008. 3 Trần Ngọc Ca, Đề tài “Nghiên cứu cơ chế và chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam”, NISTPASS, 2003 11 Định nghĩa 2: Theo J.Dunning, "công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản suất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phâm và dịch vụ mới".
Công nghệ theo định nghĩa này có bản chất là kiến thức và mục tiêu để nâng cao hiệu quả sản xuât và dịch vụ. Định nghĩa 3: Tác giả R.Jones cho rằng "công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyền thành hàng hóa". Theo định nghĩa này bản chất công nghệ là cách thức và mục tiêu là dùng dé chuyên nguồn lực thành hàng hóa. Định nghĩa 4: Theo E.Graham, "công nghệ là kiến thức không sờ mó được, không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng dé sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ".
Tại đây ta thấy công nghệ cũng có bản chất là kiên thức và mục tiêu là sản xuât ra sản phâm và dịch vụ. Định nghĩa 5: Tác giả P.Strunk cho rằng "công nghệ là sự áp dụng khoa học và công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp". Trong định nghĩa này công nghệ có bản chất là kiến thức khoa học và được áp dụng vào công nghiệp. Định nghĩa 6: Ngân hàng thế giới (1985) đưa ra định nghĩa "công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: (1) thông tin về phương pháp; (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyên hóa; (3) sự hiểu biết các phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao".
Theo định nghĩa này công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm. Định nghĩa 7: UNCTAD định nghĩa "công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua bán trên thi trường như một hàng hóa được thê hiện ở một trong các dạng sau: - Tư liệu sản xuat va đôi khi là các sản phâm trung gian, được mua va bán trên thị trường, đặc biệt gắn với các quyết định đầu tư; 12 - Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị, kỹ thuật va làm chủ được bộ máy giải quyét vân dé và sản xuât thông tin; - Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyên”. Định nghĩa này chỉ ra về bản chat công nghệ là tư liệu sản xuât, nhân lực có trình độ va thông tin, có mục tiêu là làm dau vào cân thiét cho sản xuât. Định nghĩa 8: Sharif cho rằng "công nghệ bao gồm khả năng sáng tao, đổi mới và lựa chọn từ những từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa".
Cụ thé hơn, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mêm, bao gôm bôn dạng cơ bản: - Dang vật thê (vật liệu, công cụ sản xuât, thiệt bị và máy moc, sản phẩm hoàn chỉnh); - Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm); - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dit kiện thích hop. được mô tả trong các ân phâm, tải liệu v.); - Dạng thiết chế, tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vân, cơ câu quản lý, cơ sở luật pháp.) Công nghệ theo nghĩa này có bản chất là vật thể (thiết bị máy móc) còn gọi là phần kỹ thuật; con người, phần con người; ghi chép, phần thông tin; thiết chế tổ chức, phần tổ chức; có mục tiêu dé sử dụng tối ưu, để tác động vào các yếu tố môi trường vật chất, xã hội, văn hóa. Định nghĩa 9: Luật khoa học và công nghệ số 21/2000/QH10 viết "công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng đề biến đổi các nguồn lực thành sản phâm". Định nghĩa này nói rõ công nghệ bao gồm cả công cụ và phương tiện.
13 Về bản chất, các định nghĩa đều nói tới công nghệ với tư cách là tri thức cần có dé biến đôi các nguồn lực thành sản phẩm. Sự khác biệt ở chỗ có coi những vật mang tri thức công nghệ như máy móc thiết bị, sản phẩm trung gian, lao động khoa học và công nghệ nằm trong phạm tri công nghệ hay không. Thực tiễn hoạt động ở Việt Nam việc đôi mới công nghệ chủ yếu là hình thức mua sắm máy móc, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị toàn bộ. Do vậy, việc coi công nghệ bao gồm cả những vật mang công nghệ sẽ thuận tiện hơn khi hoạch định chính sách hỗ trợ hoạt động đôi mới công nghệ, nhất là tại các DNNVV.
Doi mới công nghệ Đôi mới công nghệ là việc chủ động thay thế một phần hoặc toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn nhằm nâng VÀ 2 9 2 X„ 1 4 cao hiệu quả của san xuât kinh doanh. Đổi mới khác với sáng tạo và sáng chế, việc sáng tạo hoặc sáng chế là việc tao ra những ý tưởng mới còn đổi mới là dùng những ý tưởng này dé tạo ra lợi ích. Sáng chế là giải pháp cho một vấn đề, thường là về mặt kỹ thuật còn đổi mới là sự sử dụng hành công về mặt thương mai của giải pháp này. OECD (1997) định nghĩa "đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến bộ đáng kế về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình.
Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình được thực hiện nếu đôi mới đó đã được đưa ra thị trường (đổi mới sản phâm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình). Déi mới công nghệ sản phẩm và quy trình gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học công nghệ, tô chức, tài chính và thương mại".