Mở đầu Trong chương này, tác giả trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày kết quả kiểm định thang đo sơ bộ, mô hình thang đo, mô hình lý thuyết và các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận Trong chương này, tác giả trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, thảo luận về kết quả nghiên cứu, đề xuất hàm ý quản lý, hạn chế và hướng phát triển của đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên các giả thuyết nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết bao gồm các khái niệm nghiên cứu như doanh nghiệp nhỏ và vừa, quản lý tri thức, định hướng đổi mới sáng tạo, kết quả đổi mới sáng tạo. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa các nghiên cứu liên quan và bao gồm 6 giả thuyết nghiên cứu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Small and medium-sized enterprise) Bùi & Trương (2011) tham chiếu định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa là “Doanh nghiệp được sở hữu và vận hành một cách độc lập, không phải là phần chính trong lĩnh vực hoạt động của nó. Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa được chính phủ định nghĩa trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP dựa trên tiêu chí là tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân trong năm. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động từ 10 người trở xuống, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ trên 10 người đến 200 người, doanh nghiệp vừa có số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn lực hạn chế so với các doanh nghiệp lớn (Wang & Yang, 2015).
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng năng động và linh hoạt hơn các doanh nghiệp lớn (Wang & Yang, 2015). Cả hai doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa đều có những lợi ích khi triển khai hiệu quả quản lý tri thức (McAdam & ctg, 2001). Quản lý tri thức trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa là quan trọng bởi vì tri thức chính là nguồn lực chiến lược của doanh nghiệp (McAdam & ctg, 2001; Edvardsson & Durst, 2013; Wang & Yang, 2015). Quản lý tri thức mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa như phát triển nguồn nhân lực, sáng tạo đổi mới, sự hài lòng của khách hàng và sự thành công của doanh nghiêp (Edvardsson & Durst, 2013).
Khi tri thức mới được tạo ra, nó cần phải được nhận diện, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng, quản lý tri thức sử dụng tri thức này giúp doanh nghiệp tăng cường lợi thế cạnh tranh (Wang & Yang, 2015). McAdam & ctg (2001) trích dẫn nhận định của 6 Sternberg (1999) rằng tri thức mới được tạo ra trong quá trình đổi sáng tạo dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quản lý tri thức (Knowledge management) Baskerville & Dulipovici (2006) trích dẫn định nghĩa của Davenport & Prusak (1998), tri thức (knowledge) là kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo ngữ cảnh, cái nhìn sâu sắc của chuyên gia, cung cấp một khuôn khổ đánh giá, tổng hợp kinh nghiệm và thông tin mới. Có hai dạng tri thức: tri thức ẩn (tacit knowledge) và tri thức hiện (explicit knowledge).
Tri thức hiện được thể hiện bằng chữ, số và chia sẻ thông qua các hình thức như dữ liệu, công thức khoa học, tài liệu kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn sử dụng, và các hình thức dữ liệu tương tự. Loại tri thức này có thể dễ dàng chia sẻ giữa các cá nhân một cách chính thức và có hệ thống. Ở quốc gia phương Tây nói chung, loại hình tri thức này được nhấn mạnh. Tuy nhiên, doanh nghiệp Nhật Bản lại nhấn mạnh vào tri thức ẩn, loại tri thức không dễ dàng nhìn thấy hoặc biểu diễn.
Tri thức ẩn mang tính cá nhân, khó hình thức hóa, vì thế, rất khó để truyền thông hoặc chia sẻ với những cá nhân khác. Những hiểu biết chủ quan, trực giác và linh cảm rơi vào loại tri thức này. Tri thức ẩn được bắt nguồn từ hành động và kinh nghiệm của một cá nhân thể hiện thông qua các ý tưởng, giá trị, hoặc cảm xúc (Nonaka & Konno, 1998). Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tri thức chính là nguồn lực để tạo ra năng lực cạnh tranh và việc thực hiện của doanh nghiệp (Bùi & Trương, 2011).
Theo Dalkir (2005), quản tri tri thức là sự phối hợp có chủ ý và mang tính hệ thống của nhân viên, công nghệ, quy trình và cơ cấu doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị thông qua việc tái sử dụng tri thức và đổi mới sáng tạo. Sự phối hợp này đạt được thông qua việc tạo ra, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng tri thức cũng như thông qua việc hấp thụ bài học kinh 7 nghiệm và thực hành có giá trị vào bộ nhớ tổ chức để thúc đẩy quá trình học tập tổ chức. Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa quản lý tri thức của Dalkir (2005). Nghiên cứu quản lý tri thức có xu hướng tập trung vào các quy trình và cấu trúc bên trong tổ chức, chẳng hạn như quá trình chuyển đổi từ tri thức ẩn sang tri thức hiện, văn hóa và học tập tổ chức, công nghệ lưu trữ và chia sẻ tri thức nhằm nâng cao năng suất và doanh thu, giảm chi phí, hoặc tăng sự sáng tạo và chất lượng (Durst & Edvardsson, 2012).
Quản lý tri thức tập trung vào dòng chảy tri thức và quá trình sáng tạo, chia sẻ và lưu trữ và phân phối tri thức (Alavi & Leidner, 2001). Doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn lực giới hạn (Wang & Yang, 2015), tuy nhiên doanh nghiệp nhỏ và vừa có cấu trúc phẳng (flat structure) và phong cách quản lý thả trôi tự do (free-floating management style) đã khuyến khích tinh thần doanh nhân và đổi mới sáng tạo (Durst & Edvardsson, 2012). So với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng tập trung nhiều vào việc quản lý tri thức ẩn và các kênh thông tin thường đến từ kênh thông tin giữa các doanh nghiệp hơn là kênh thông tin nội bộ (Durst & Edvardsson, 2012). Các hoạt động liên quan đến quản lý tri thức bao gồm nhận dạng tri thức (knowledge identification), sáng tạo tri thức (knowledge creation), lưu trữ tri thức (knowledge storage/retention), chuyển giao tri thức (knowledge transfer), ứng dụng tri thức (knowledge utilisation) có tác động sâu sắc vào khả năng giải quyết thách thức kinh doanh hiện tại và tương lai cũng như sự tồn tại của chính doanh nghiệp đó (Durst & Edvardsson, 2012).1 mô tả đặc điểm của quản lý tri thức trong mối quan hệ với đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa và quản lý tri thức (Durst & Edvardsson, 2012). Nhận dạng tri thức tập trung vào các hoạt động xác định những tri thức đã tồn tại, tri thức cần thiết cho doanh nghiệp, cũng như các nguồn lực để xây dựng tri thức này (Durst & Edvardsson, 2012). Sáng tạo tri thức tập trung vào việc tạo ra tri thức mới. Tri thức này đến từ nguồn bên trong doanh nghiệp cũng như được hấp thụ từ bên ngoài doanh nghiệp.
Lưu trữ tri thức bao gồm quy trình mã hóa tri thức xây dựng bộ nhớ tổ chức (Durst & Edvardsson, 2012). Chuyển giao tri thức là quá trình chia sẻ tri thức ẩn và tri thức hiện bên trong tổ chức thông qua trao đổi mặt đối mặt (face-to-face) hoặc được hỗ trợ bởi CNTT (Wang & ctg, 2008). Cuối cùng, ứng dụng tri thức là việc sử dụng tri thức để tạo giá trị cho doanh nghiệp (Durst & Edvardsson, 2012). Quản lý tri thức liên quan đến các quá trình khác nhau nhưng phụ thuộc lẫn nhau trong việc sáng tạo, lưu trữ, chuyển giao, ứng dụng tri thức (Alavi & Leidner, 2001).
Quá trình sáng tạo, lưu trữ, chuyển giao, ứng dụng trị thức là quan trọng đến hiệu quả quản lý tri thức của doanh nghiệp (Alavi & Leidner, 2001). Sáng tạo tri thức (knowledge creation) Sáng tạo tri thức là quá trình tạo ra tri thức mới bao gồm tri thức ẩn và tri thức hiện thông qua quá trình chuyển đổi tri thức được gọi là xã hội hóa, ngoại hóa, kết hợp, và tiếp thu theo mô hình sáng tạo tri thức SECI (Dalkir, 2005, p. Lý thuyết về sáng tạo tri thức của Nonaka cung cấp một cơ chế mà nhờ đó việc chuyển đổi từ tri thức ẩn sang tri thức hiện có thể được quản lý (Marley, 2012). Sáng tạo tri thức bao gồm các hoạt động phát triển nguồn tri thức mới thông qua hoạt động R&D (Dalkir, 2005, p.
Tri thức cũng có thể được tạo ra thông qua việc hấp thụ tri thức (ví dụ, các phân tích, gợi ý từ các chuyên gia, từ quy trình hướng dẫn, tham gia vào tổ chức liên doanh để học hỏi công nghệ. Cuối cùng, tri thức có thể được tạo ra thông qua quan sát thế giới thực (Dalkir, 2005, p. Lưu trữ tri thức (knowledge storage) Theo chu trình quản lý tri thức của Zack (1996), lưu trữ tri thức là chiếc cầu nối giữa giai đoạn sáng tạo, thu thập, tinh lọc tri thức trước khi lưu trữ vào kho tri thức (Dalkir, 2005). Lưu trữ tri thức bao gồm quy trình mã hóa tri thức xây dựng bộ nhớ tổ chức (Durst & Edvardsson, 2012).
Bộ nhớ tổ chức cho phép tập hợp và tổ chức lại thông tin rời rạc nhằm thúc đẩy việc lưu trữ, chia sẻ, tìm kiếm và ứng dụng tri thức (Wang & ctg, 2008). Tuy nhiên, nghiên cứu về lưu trữ tri thức ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa được quan tâm đúng mức (Durst & Edvardsson, 2012). Chuyển giao tri thức (knowlegde transfer) Chuyển giao tri thức cho phép các nhân viên chia sẻ kiến thức, kỹ năng, công nghệ lẫn nhau (Alavi & Leidner, 2001; Wang & ctg, 2008) và để thực hiện điều này doanh nghiệp cần thiết lập kênh truyền thông chính thức và không chính thức (Alavi & Leidner, 2001). Tri thức hiện có thể dễ dàng được hệ thống hóa và lưu trữ trong bộ nhớ tổ chức (Wang & ctg, 2008) và CNTT là công cụ chính được sử dụng để chuyển giao tri thức này trong doanh nghiệp (Dalkir, 2005).
Trong khi đó, tri thức ẩn được sở hữu bởi cá nhân, vì thế, rất khó mã hóa và lưu trữ.