Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước trong hợp tác quốc tế lĩnh vực khoa học và công nghệ

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

208
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

1.2. Nghiên cứu ngoài nước

1.3. Các công trình trong nước

1.4. Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

1.5. Nghiên cứu ngoài nước

1.6. Các công trình trong nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

2.1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

2.2. Nội dung chủ yếu

2.3. Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

2.4. Nội dung chính

2.5. Nguyên tắc cơ bản

2.6. Kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam

2.7. Một số gợi suy cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN CỦA VIỆT NAM

3.1. Về phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy

3.2. Về hệ thống văn bản quản lý

3.3. Về hệ thống tài chính công

3.4. Nhận xét và đánh giá

3.5. Về phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy

3.6. Về hệ thống văn bản quản lý

3.7. Về hệ thống tài chính công

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN VIỆT NAM

4.1. Một số xu thế thế giới tác động đến hợp tác quốc tế về KH&CN

4.2. Mục tiêu hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam đến năm 2030

4.3. Giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam đến năm 2030

4.3.1. Về phân công quyền lực và tổ chức bộ máy

4.3.2. Về hệ thống văn bản quản lý

4.3.3. Về hệ thống tài chính công

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển của một quốc gia. Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với gần 70 quốc gia và tổ chức quốc tế, ký kết hơn 80 hiệp định hợp tác KH&CN. Mục tiêu chính của hợp tác này là rút ngắn khoảng cách công nghệ với thế giới, cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tăng cường tiềm lực KH&CN. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn phân tán và chưa giải quyết được những vấn đề lớn về KH&CN trong nước. Hợp tác quốc tế cần trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động KH&CN, nhằm huy động nguồn lực từ bên ngoài để thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia.

1.1. Tầm quan trọng của hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong KH&CN không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến mà còn tạo cơ hội cho việc đào tạo cán bộ và phát triển cơ sở vật chất. Các hiệp định hợp tác đã giúp Việt Nam tranh thủ được sự hỗ trợ về trang thiết bị và đào tạo chuyên gia. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, khi mà việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và tri thức là cần thiết để đảm bảo an ninh công nghệ quốc gia.

II. Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH CN

Quản lý nhà nước (QLNN) về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN đã được thể chế hóa qua các văn bản pháp luật như Luật KH&CN năm 2000 và các luật sửa đổi sau này. QLNN cần đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc triển khai các hoạt động hợp tác. Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn nhiều thách thức như sự chồng chéo trong quản lý, thiếu một chiến lược xuyên suốt và cơ chế tài chính công chưa đủ mạnh. Việc cải cách QLNN là cần thiết để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong KH&CN.

2.1. Thực trạng quản lý nhà nước

Thực trạng QLNN về hợp tác quốc tế trong KH&CN cho thấy sự phân tán trong việc phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy. Nhiều tổ chức hành chính tham gia vào công tác này, dẫn đến sự cản trở trong việc thực hiện các chính sách. Hệ thống văn bản pháp lý cũng còn phức tạp và thiếu tính đồng bộ, gây khó khăn trong việc triển khai các hoạt động hợp tác.

III. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong KH CN

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế trong KH&CN, cần thiết phải đổi mới QLNN theo hướng tập trung vào việc xây dựng một hệ thống quản lý đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp bao gồm việc cải cách bộ máy quản lý, xây dựng hệ thống văn bản pháp lý rõ ràng và phù hợp, cũng như phát triển cơ chế tài chính công mạnh mẽ hơn. Điều này sẽ giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn các nguồn lực quốc tế và nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước.

3.1. Định hướng và mục tiêu

Mục tiêu hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam đến năm 2030 là nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, đồng thời đảm bảo an ninh công nghệ quốc gia. Định hướng này cần được cụ thể hóa qua các chương trình hành động và chính sách cụ thể, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 1. Nghiên cứu ngoài nước Archibugi D. trong bài viết “The Policy imlications of the globalization of innovation” (Gợi suy về chính sách toàn cầu hóa đổi mới sáng tạo) trên Tài liệu nghiên cứu của Trường đại học Cambridge đã nghiên cứu về hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo (innovation) từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách.

Họ cho rằng cách thức để các công ty đưa kết quả sáng tạo của mình ra thị trường quốc tế là xuất khẩu sản phẩm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (FDI là một kênh quan trọng). Còn đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư, sự ổn định về kinh tế và thể chế, năng lực công nghệ là yếu tố quan trọng để thúc đẩy hợp tác. Hợp tác quốc tế về KH&CN cần lưu ý rằng trong thế giới hàn lâm, hoạt động chuyển giao tri thức giữa các học giả có thể không yêu cầu chi phí. Tuy nhiên, điều này có thể khác so với hợp tác giữa các doanh nghiệp.

Toàn cầu hóa KH&CN và đổi mới sáng tạo đều mang lại cơ hội và thách thức. Các nước phát triển có lợi thế vì họ nắm nhiều cơ hội mang lại từ việc năng lực công nghệ quốc gia rất tiên tiến, tạo ra được những công nghệ chuyên biệt và đặc biệt (niche and specification technology). Tiến trình toàn cầu hóa trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo đã tạo nên sức ép cho QLNN vì đều có tác động đối với đời sống kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, các chính phủ phải giải quyết các vấn đề như tài chính công, thu hút đầu tư nhà nước, phát triển giáo dục, bảo vệ công nghệ bản địa, bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, thậm chí bảo vệ các phòng thí nghiệm NCPT.

Chọn đối tượng là tập đoàn đa quốc gia, trong công trình công bố của mình, tiêu biểu như bài viết “Globalization of R&D: recent changes in the 15 luan an management of innovation in transnational corporations” (Toàn cầu hóa NCTK: những thay đổi mới nhất trong quản lý đổi mới sáng tạo ở các tập đoàn xuyên quốc gia) trên Tạp chí Elsevier, Gerybadze, Alexander và Reger, Guido đã chỉ ra sự mạnh mẽ và tất yếu của toàn cầu hóa về NCPT, thông qua đó khẳng định hợp tác quốc tế về KH&CN là cần thiết với nhiều quốc gia, phát triển cũng như đang phát triển. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các tập đoàn công nghệ đa quốc gia có xu hướng thành lập các đơn vị NCPT ở ngoài lãnh thổ mặc dù ban đầu chỉ giới hạn ở việc thích hợp sản phẩm và công nghệ xử lý ở quốc gia sở tại, sau đó mở rộng hơn trên phạm vi toàn cầu. Động cơ chính là: tìm kiếm thị trường mới, kiểm tra và thử nghiệm các ý tưởng sản phẩm mới, tham gia ngay từ đầu ở những quốc gia có khe hở về quy định (regulatory niche), tiếp cận tới nguồn lực độc đáo, kết quả nghiên cứu mới và nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Điều này đã thúc đẩy nhu cầu phải hợp tác giữa các quốc gia về KH&CN.

Các tác giả cũng chỉ ra một số hình thức có thể hợp tác trong KH&CN như: tiếp cận các hoạt động NCPT tiên tiến được đặt tại các quốc gia phát triển có năng lực NCPT mạnh; hoặc dựa vào các nghiên cứu được thực hiện ở những quốc gia nhỏ, thậm chí có năng lực NCPT thấp hơn. Nghiên cứu đã đưa ra một số gợi ý cho chính sách công về KH&CN, trong đó cho rằng cần tập trung chính sách vào các quy trình NCPT và đổi mới công nghệ ở những công đoạn gần với thị trường, cần chú trọng xác lập vị trí dẫn đầu một cách bền vững trong một số lĩnh vực dựa trên năng lực NCPT, các doanh nghiệp sở hữu công nghệ và thị trường. Một số nghiên cứu khác như của Cees van Beers và đồng nghiệp trong bài “R&D internationalization, R&D collaboration and public knowledge institution in small economies: evidence from Finland and the Netherlands” (quốc tế hóa NCTK, hợp tác về NTK và thể chế tri thức công ở các nền kinh 16 luan an tế nhỏ: bằng chứng từ Phần Lan và Hà Lan) trên Research Policy, Von Zedtwitz và Gassmann với “Market versus technology drive in R&D internationalization: four different patterns of managing research and development” (Động lực thị trường và công nghệ trong quốc tế hóa về NKTK: bốn mô hình quản lý NCTK khác nhau) trên Research Policy cùng một số học giả khác đã đề cập sâu hơn về vai trò của các tập đoàn đa quốc gia trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN qua các giai đoạn, đồng thời đề cập đến cách thức một quốc gia cần lưu ý để tận dụng hợp tác quốc tế nhằm tăng năng lực công nghệ bản địa. Các công bố đã hệ thống rằng cho đến giữa thập kỷ 80, tri thức và hoạt động NCPT quan trọng được thực hiện chủ yếu tại chính quốc, hoạt động liên quan đến công nghệ ở nước ngoài chỉ là thích hợp và vì vậy vẫn phụ thuộc vào trụ sở chính.

Từ giữa thập niên 80 trở về sau, xu thế này thay đổi theo hướng đầu tư thêm cho các cơ sở NCPT ở nước ngoài được tăng cường để tìm kiếm công nghệ, tranh thủ nguồn nhân lực tài năng, khai thác hệ thống đổi mới sáng tạo của nước sở tại. Điều này thúc đẩy sự hợp tác ngày càng tăng giữa doanh nghiệp nước ngoài với các trường đại học/viện nghiên cứu trong nước. Do đó, năng lực NCPT quốc gia trở thành điểm then chốt để thu hút FDI có chất lượng. Với góc nhìn biện chứng, Hsu Chia-Wen, Lien Yung-Chih và Chen Homin trong bài viết “R&D internationalization and innovation performance” (quốc tế hóa về NCTK và năng lực đổi mới sáng tạo) trên International Business Review đã tiến hành nghiên cứu tác động của hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN đến năng lực đổi mới sáng tạo.

Một mặt, các tác giả thừa nhận cạnh tranh toàn cầu khốc liệt đã thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm tri thức ở nước ngoài. Vì vậy, hợp tác quốc tế về KH&CN, mà trọng tâm là NCPT được đẩy mạnh hơn. Mặt khác, Hsu và đồng nghiệp tái khẳng định không chỉ các nước phát triển, mà cả các nước đang phát triển cũng thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN bởi vì thông qua đó, họ có thể sở hữu được nguồn 17 luan an lực quan trọng, bù đắp cho những thiếu hụt của người đi sau và tận dụng được việc sở hữu những lợi thế cạnh tranh chiến lược trên thị trường toàn cầu. Hợp tác quốc tế về NCPT có tác động hình chữ U (U-shape) đối với năng lực đổi mới sáng tạo, hợp tác quốc tế giúp đảm bảo tăng tính sáng tạo cho doanh nghiệp và giúp họ bù đắp được những yếu điểm trong cạnh tranh quốc tế.

trong các nghiên cứu của mình về toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế về KH&CN, ví dụ như trong bài viết “Market versus technology drive in R&D internationalization: four different patterns of managing research and development” trên Research Policy đã chấp nhận góc nhìn khác của De Meyer và Mizushima về vấn đề này. Đó là: toàn cầu hóa về KH&CN được nhìn nhận là sự chịu đựng hơn là sự hài lòng. Họ cho rằng thiết lập mạng lưới KH&CN quốc tế cũng như quản lý các dự án hợp tác quốc tế về KH&CN không hề đơn giản và luôn tiềm ẩn rủi ro. Tuy nhiên, hai học giả khẳng định lợi ích tiềm năng mang lại từ hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN là quá lớn để có thể bỏ qua, đồng thời chỉ ra 4 xu hướng chính của hoạt động này, bao gồm: (i) hợp tác nghiên cứu khoa học (thành lập các đơn vị nghiên cứu ở nước ngoài); (ii) hợp tác phát triển công nghệ (thành lập đơn vị phát triển công nghệ ở nước sở tại); (iii) phát triển công nghệ dựa vào các kết quả nghiên cứu (thành lập nhiều tổ chức phát triển công nghệ đặt cạnh các cơ quan nghiên cứu xuất sắc ở nước ngoài); (iv) nghiên cứu phục vụ nhu cầu phát triển công nghệ (hợp tác với các tổ chức khoa học đủ mạnh để hỗ trợ phát triển và bảo hành công nghệ).

Tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa hợp tác về nghiên cứu khoa học với hợp tác phát triển công nghệ, từ đó cho rằng quản lý và xây dựng chính sách cần khác nhau giữa hai loại hình hợp tác này. Carlsson Bo dành nhiều nghiên cứu về Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) và nhu cầu hợp tác quốc tế của NIS. Trong công bố “Internationalization of innovation system: a survey of the literature” (quốc tế hóa hệ thống đổi mới sáng tạo: khảo sát các bài viết) trên Research Policy, 18 luan an Carlson Bo chỉ ra rằng các quốc gia nhỏ thường chịu tác động lớn từ dòng chảy mạnh mẽ của tri thức KH&CN và những công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài. Trong khi đó, các quốc gia lớn hơn có tính tự chủ về công nghệ cao hơn nên ít chịu ảnh hưởng.

Tuy nhiên, hợp tác quốc tế về KH&CN vẫn là tất yếu, do bản thân hệ thống NIS càng ngày càng có ít tính quốc gia hơn. Hình thức hợp tác quốc tế cũng khác nhau về mật độ. Hợp tác về khoa học nhiều hơn so với hợp tác về công nghệ. Điều này cũng phản ánh bản chất của tri thức thuần túy và sự hỗ trợ của chính phủ cho hợp tác quốc tế chủ yếu dành cho các đơn vị công lập hoặc bán công lập.

Carlson Bo đã chỉ ra những rào cản đối với hợp tác quốc tế về KH&CN như thể chế (bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giáo dục đại học), năng lực những ngành công nghiệp có hàm lượng R&D cao (như công nghệ sinh học, phần mềm và máy tính). Các công trình trong nước Cho đến nay, các nghiên cứu trong nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN chủ yếu nêu bật các kết quả của loại hình hoạt động này, hoặc đánh giá về vai trò đối với sự phát triển của KH&CN, đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN thường được đề cập bổ sung trong các công trình nghiên cứu về KH&CN nói chung, thay vì có những nghiên cứu tổng thể dành riêng cho đối tượng này. Xin tóm tắt một số nghiên cứu chính như sau: “Tổng luận các mô hình hợp tác quốc tế về KH&CN và vai trò của chính sách quốc gia trong việc thu hút R&D nước ngoài” do Đặng Bảo Hà biên soạn năm 2007 đến nay vẫn được xem là một công bố trong nước đề cập khá tổng thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước trong hợp tác quốc tế lĩnh vực khoa học và công nghệ" của tác giả Lương Văn Thắng, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh và PGS Trần Quốc Thắng, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu các phương thức quản lý nhà nước trong bối cảnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của các hoạt động hợp tác này. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ thông qua các mối quan hệ quốc tế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay", nơi đề cập đến các chính sách quản lý trong lĩnh vực giáo dục, hay "Luận văn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình", cung cấp cái nhìn về quản lý nhà nước trong ngành du lịch. Cả hai tài liệu này đều chia sẻ các khía cạnh về quản lý nhà nước, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.