Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu 2.271 tuyến đường có vỉa hè với tổng chiều dài gần 2.000 km, trong đó riêng địa bàn Quận 1 tập trung 134 tuyến đường huyết mạch. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đô thị văn minh, hiện đại và nghĩa tình theo tinh thần Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 10/3/2017 về tăng cường quản lý trật tự đô thị, tạo nên đợt cao điểm chấn chỉnh tình trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè trên toàn địa bàn. Hoạt động này nhanh chóng tạo mỹ quan thông thoáng, xử lý hơn 1.953 trường hợp buôn bán hàng rong không đúng quy định. Tuy nhiên, việc siết chặt quản lý không gian công cộng đã tác động trực tiếp và gay gắt đến kế sinh nhai của nhóm lao động phi chính thức.

Tại Quận 1, trong tổng số 1.829 hộ nghèo và cận nghèo (chiếm tỷ lệ 3,44% dân số toàn quận), có tới 257 hộ mưu sinh dựa hoàn toàn vào vỉa hè, chiếm 14,05% tổng số hộ nghèo và cận nghèo của địa phương. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá một cách khoa học các tác động của chính sách chấn chỉnh trật tự đô thị đến các nguồn vốn sinh kế và mức độ tổn thương của 257 hộ dân nói trên. Phạm vi khảo sát thực tế diễn ra tại 10 phường thuộc Quận 1 trong khoảng thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 10/2017. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và đề xuất các giải pháp chính sách công giúp địa phương dung hòa mục tiêu lập lại trật tự đô thị với bảo đảm an sinh xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999) ban hành, kết hợp lý thuyết sinh kế của Robert Chambers & Gordon Conway (1992) và mô hình đa dạng hóa sinh kế của Frank Ellis (2000). Sinh kế được định nghĩa là tập hợp các khả năng, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội) cùng những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế bền vững khi có năng lực chống chịu, phục hồi sau các cú sốc và duy trì năng lực phát triển mà không làm suy giảm các nguồn tài nguyên nền tảng.

Mô hình nghiên cứu phân tích sự tương tác giữa 4 nguồn vốn sinh kế chính (vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội), bối cảnh dễ bị tổn thương (các cú sốc, xu hướng đô thị hóa), cùng cấu trúc thể chế chính sách (Chỉ thị số 11-CT/TU, Quyết định số 74/2008/QĐ-UBND của UBND TP.HCM). Do nghiên cứu thực hiện tại quận lõi đô thị thuần dịch vụ - thương mại, thành tố vốn tự nhiên được loại trừ. Chuẩn nghèo đa chiều được áp dụng theo Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND của UBND TP.HCM giai đoạn 2016-2020, xác định hộ nghèo có thu nhập từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống hoặc thiếu hụt từ 40 điểm trở lên trong 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản, hộ cận nghèo có thu nhập từ trên 21 đến 28 triệu đồng/người/năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát toàn bộ đối với 257 hộ nghèo và hộ cận nghèo đang trực tiếp kinh doanh buôn bán trên vỉa hè tại 10 phường của Quận 1, đại diện cho 14,05% tổng số hộ nghèo toàn quận. Quy trình chọn mẫu thực hiện qua 3 bước: tiếp nhận danh sách rà soát từ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 1, khảo sát thử nghiệm ngẫu nhiên 10 hộ tại 10 phường để hoàn thiện bảng hỏi, và triển khai phỏng vấn chính thức toàn bộ 257 hộ.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc với thời lượng 15-30 phút/hộ, kết hợp phỏng vấn sâu lãnh đạo các cơ quan quản lý (Phòng Quản lý đô thị, Đội Trật tự đô thị, Mặt trận Tổ quốc Quận 1, UBND phường Tân Định và Cầu Ông Lãnh) cùng các chuyên gia chính sách. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2017 của Quận 1. Nghiên cứu sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS để xử lý thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) và phân tích so sánh chéo. Phương pháp định tính kết hợp định lượng mô tả được lựa chọn nhằm phản ánh chân thực các khía cạnh phi số hóa của đời sống dân sinh và đo lường chính xác mức độ biến động tài sản sau các đợt kiểm tra trật tự đô thị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế 257 hộ nghèo và cận nghèo tại Quận 1 làm sáng tỏ bức tranh sinh kế đô thị qua các chỉ số cụ thể:

  • Hạn chế nghiêm trọng về vốn con người: Có tới 80,2% chủ hộ buôn bán vỉa hè là nữ giới (206 người), chỉ 19,8% là nam giới. Về độ tuổi, 59,2% chủ hộ nằm trong nhóm từ 45 đến 65 tuổi (nhóm 45-55 tuổi chiếm 30,4%). Về học vấn, 77,4% chủ hộ chỉ đạt trình độ tiểu học và trung học cơ sở (tiểu học chiếm 34,2%, THCS chiếm 43,2%), trình độ THPT và cao hơn chỉ chiếm 16,3%. Tỷ lệ chủ hộ từng qua đào tạo nghề đạt mức rất thấp là 21%.
  • Sự phụ thuộc tuyệt đối vào không gian vỉa hè: Mua bán trên vỉa hè là nguồn sinh kế chính của 63,9% hộ gia đình, mang lại mức thu nhập phổ biến từ 2.000.000 đến 4.000.000 đồng/tháng. Về thâm niên, 48,2% hộ đã bán hàng trên vỉa hè trên 10 năm và 28,4% có thâm niên từ 5 đến 10 năm. Về phương thức, 66,9% bán cố định tại vỉa hè (chủ yếu trước cửa nhà dân chiếm 48,6% và khu vực công cộng chiếm 30,7%), 54% hộ kinh doanh trọn cả ngày.
  • Áp lực từ cú sốc chính sách trật tự đô thị: Khi đánh giá các rủi ro phát sinh trong năm, 65,2% hộ khẳng định việc dọn dẹp vỉa hè là cú sốc kinh tế lớn nhất làm sụt giảm thu nhập nghiêm trọng, vượt trội so với rủi ro ốm đau bệnh tật (14,9%) hay giá cả thị trường tăng cao (9,2%). Về vốn tài chính, 53% hộ đang sử dụng vốn vay tín dụng (trong đó 61,8% vốn vay được rót trực tiếp vào việc buôn bán vỉa hè), dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán nợ khi bị cấm kinh doanh.
  • Chiến lược ứng phó mang tính thụ động: Khi chính quyền siết chặt quản lý lòng lề đường, có tới 88,7% hộ dân lựa chọn giải pháp tiếp tục buôn bán bằng hình thức công khai hoặc né tránh lực lượng chức năng; chỉ có 11,3% hộ chọn phương án dừng bán để chuyển đổi sang nghề nghiệp khác.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chỉ ra rằng rào cản về độ tuổi trung niên (59,2% từ 45-65 tuổi) cùng nền tảng học vấn thấp khiến nhóm lao động nghèo không thể cạnh tranh trên thị trường lao động chính thức. Vỉa hè vô hình trung trở thành "chiếc phao cứu sinh" tạo dòng tiền hàng ngày nuôi sống gia đình. Việc 63,9% hộ coi đây là sinh kế duy nhất phản ánh thực trạng thiếu hụt kỹ năng chuyển đổi nghề nghiệp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Frank Ellis (1999) khi khẳng định vốn con người là yếu tố quyết định khả năng đa dạng hóa sinh kế, đồng thời củng cố nhận định của Trần Thị Hồng Duyên (2013) về tình trạng bấp bênh của phụ nữ bán hàng rong.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động thông qua ngũ giác tài sản sinh kế (DFID pentagon) và bảng phân tích tương quan chéo giữa kinh nghiệm bán hàng với mức độ nghèo đa chiều. Về mặt vật chất, dù 95,5% hộ có tivi, 89,7% có điện thoại và 73,3% có xe máy, nhưng không gian sống lại vô cùng chật hẹp (61 hộ có diện tích nhà ở dưới 5m2). Sự tổn thương của nhóm hộ này không nằm ở tài sản tiện nghi tối thiểu mà nằm ở sự đứt gãy nguồn thu nhập duy nhất khi chính sách quản lý đô thị thực thi theo hướng cơ học, thiếu các biện pháp an sinh đệm đi kèm.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Quy hoạch không gian kinh doanh vỉa hè có kiểm soát và thu phí minh bạch: UBND Quận 1 cùng Phòng Quản lý đô thị cần phân loại 71 tuyến đường có bề rộng vỉa hè trên 3m (chiếm 52,98% tổng số 134 tuyến đường của quận) để kẻ vạch ranh giới, bảo đảm lối đi bộ tối thiểu 1,5m và tổ chức các khu phố ẩm thực, kinh doanh theo khung giờ xác định; hoàn thành việc phân bổ điểm kinh doanh có thu phí cho các hộ nghèo trong thời hạn 6 tháng.
  • Triển khai chương trình đào tạo nghề ngắn hạn và chuyển đổi nghề chuyên biệt: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ Quận 1 thiết kế các khóa học nghề linh hoạt dưới 3 tháng (chế biến thực phẩm an toàn, dịch vụ du lịch, may mặc gia công); đặt chỉ tiêu 100% chủ hộ nghèo dưới 50 tuổi được tư vấn giới thiệu việc làm phù hợp trong giai đoạn 2017-2018.
  • Mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi gắn với phương án kinh doanh hợp pháp: Ngân hàng Chính sách Xã hội Quận 1 phối hợp với các đoàn thể cơ sở nâng mức cho vay tín chấp không cần tài sản đảm bảo lên mức 30.000.000 - 50.000.000 đồng/hộ đối với 257 hộ nghèo, đi kèm điều kiện chuyển đổi mô hình buôn bán vào các điểm quy hoạch hoặc mở cửa hàng cố định trong vòng 12 tháng.
  • Tăng cường năng lực trợ giúp từ mạng lưới an sinh và vốn xã hội: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban giảm nghèo 10 phường duy trì tỷ lệ 100% bao phủ thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ miễn giảm học phí cho con em 143 hộ nghèo có thành viên đang đi học, đồng thời thiết lập kênh đối thoại định kỳ hàng quý nhằm tháo gỡ vướng mắc cho người dân trong tiến trình lập lại trật tự đô thị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền đô thị: UBND các quận, huyện, Sở Xây dựng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham chiếu để thiết kế chính sách quản lý lòng lề đường hài hòa giữa trật tự đô thị và an sinh xã hội.
  • Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể địa phương: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc và Ngân hàng Chính sách Xã hội sử dụng số liệu nghiên cứu để xây dựng các gói vay vốn ủy thác, đề án hỗ trợ phụ nữ nghèo phát triển kinh tế gia đình.
  • Học viên, nghiên cứu sinh ngành Quản lý công và Chính sách công: Tiếp cận khung phương pháp luận chuẩn mực về Khung sinh kế bền vững (SLA), cách thức thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật xử lý dữ liệu thực nghiệm trên phần mềm SPSS cho các đề tài phát triển đô thị.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và chuyên gia phát triển cộng đồng: Vận dụng dữ liệu thực chứng của 257 hộ dân để xây dựng các dự án can thiệp sinh kế vi mô, hỗ trợ nhóm lao động phi chính thức dễ bị tổn thương tại các đại đô thị đang chuyển dịch nhanh.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách dọn vỉa hè ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế hộ nghèo tại Quận 1? Chính sách này tác động tiêu cực trực tiếp khi có tới 63,9% hộ nghèo xem vỉa hè là nguồn thu nhập chính và 65,2% hộ xác nhận việc dọn dẹp vỉa hè là cú sốc kinh tế lớn nhất năm. Thu nhập trung bình từ 2-4 triệu đồng/tháng bị gián đoạn làm suy giảm khả năng chi trả sinh hoạt và trả nợ vay ngân hàng.

Khung phân tích sinh kế bền vững DFID được vận dụng ra sao trong nghiên cứu này? Tác giả đã điều chỉnh khung DFID phù hợp với thực tế đô thị bằng cách tập trung phân tích 4 nguồn vốn (con người, tài chính, vật chất, xã hội) và lược bỏ vốn tự nhiên. Mô hình đánh giá toàn diện cách thức các cú sốc chính sách tác động lên tài sản và chiến lược kiếm sống của hộ nghèo.

Tại sao phần lớn chủ hộ buôn bán vỉa hè tại Quận 1 là phụ nữ trung niên? Số liệu khảo sát ghi nhận 80,2% chủ hộ là nữ và 59,2% ở độ tuổi 45-65. Phụ nữ trung niên chọn bán hàng vỉa hè vì công việc này linh hoạt thời gian, giúp họ vừa kiếm sống vừa chăm sóc gia đình, đồng thời không đòi hỏi bằng cấp cao hay vốn đầu tư ban đầu quá lớn.

Rào cản lớn nhất khiến hộ nghèo không thể chuyển đổi nghề nghiệp là gì? Rào cản lớn nhất là vốn con người thấp kém: 77,4% chủ hộ chỉ học hết cấp 1 hoặc cấp 2 và 79% chưa từng qua đào tạo nghề. Độ tuổi trung bình cao cùng áp lực trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày khiến họ không đủ điều kiện và thời gian theo học các khóa đào tạo dài hạn.

Giải pháp nào giúp giải quyết hài hòa giữa mỹ quan đô thị và sinh kế vỉa hè? Giải pháp khả thi nhất là tổ chức không gian vỉa hè theo thời gian và địa điểm quy định. Tận dụng 71 tuyến đường có vỉa hè rộng trên 3m để kẻ vạch kinh doanh có thu phí và quản lý an toàn thực phẩm, vừa đảm bảo lối đi 1,5m cho người đi bộ vừa giữ nguồn sống cho hộ nghèo.

Kết luận

  • Chính sách lập lại trật tự đô thị tại Quận 1 là chủ trương đúng đắn nhằm xây dựng mỹ quan đô thị nhưng đã tạo nên cú sốc sinh kế trực tiếp cho 257 hộ nghèo và cận nghèo buôn bán nhỏ lẻ.
  • Sự hạn chế nghiêm trọng về vốn con người với 80,2% chủ hộ là nữ, 59,2% trong độ tuổi 45-65 và 77,4% có trình độ học vấn dưới cấp 3 là nguyên nhân chính khiến nhóm hộ này phụ thuộc hoàn toàn vào vỉa hè.
  • Bán hàng vỉa hè là nguồn sống sống còn của 63,9% hộ, dẫn tới phản ứng xã hội đa phần mang tính thích ứng thụ động với 88,7% hộ tiếp tục bám trụ kinh doanh thay vì chuyển đổi nghề.
  • Quản lý đô thị cần chuyển từ tư duy cấm đoán hành chính sang quy hoạch không gian chia sẻ có kiểm soát trên 71 tuyến đường rộng trên 3m kết hợp thu phí dịch vụ minh bạch.
  • Cần tích hợp đồng bộ các gói hỗ trợ tín dụng ưu đãi từ 30 đến 50 triệu đồng/hộ, đào tạo nghề thực chất dưới 3 tháng và củng cố mạng lưới an sinh xã hội để giúp người dân thoát nghèo bền vững.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực chứng toàn diện về thực trạng sinh kế phi chính thức tại quận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định tính tất yếu của việc lồng ghép đánh giá tác động an sinh xã hội vào quá trình hoạch định chính sách công. Bước tiếp theo, các nhà quản trị đô thị cần hoàn thiện đề án phân luồng vỉa hè thí điểm trong 6 tháng tới và xây dựng bộ chỉ số theo dõi sinh kế hộ yếm thế. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách trong nỗ lực kiến tạo các đô thị văn minh, hiện đại và nhân văn.