Chương 1), sự thiếu hụt này sẽ gây nhiều khó khăn cho việc hoạch định chiến lược phát triển cũng như lựa chọn chính sách quản lý của tỉnh Lào Cai. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp hỗn hợp, bao gồm phương pháp định tính và định lượng. Nghiên cứu định lượng Với mục tiêu tìm kiếm thông tin và các chứng cứ từ nghiên cứu thực địa, chúng tôi lựa chọn địađiểm nghiên cứu là hai lối mở biên giới trên địa bàn một xã thuộc tỉnh Lào Cai. Qua đó, tái hiện lại mối quan hệ phức tạp tại lối mở, giữa các cơ quan quản lý nhà nước, mạng lưới “bao hàng”, kho bãi và hình thức giao dịch trao đổi hàng hóa.
Đồng thời, chúng tôi cũng nhận thấy có nhiều điểm nghi vấn về tính hợp pháp của phương thức giao dịch và các mặt hàng đi qua lối mở, cũng như khả năng có sự câu kết bao che của một số cán bộ quản lý ở khu vực nghiên cứu. Nhằm kiểm định lại các thông tin đó, chúng tôi đã sử dụng phương pháp định lượng, mô hình được lựa chọn là mô hình hồi quy Sai biệt trong sai biệt (difference in difference). Mục tiêu của mô hình là xác định tính hợp pháp của hàng hóa giao dịch qua lối mở (có phải hàng buôn lậu hoặc gian lận thương mại không?) cũng như mối tương quan với cán bộ quản lý (đại diện là các đợt thanh – kiểm tra). Cấu trúc dữ liệu bao gồm sáu nhóm biến quan sát: (1) Khối lượng hàng giao dịch qua các lối mở trong ngày (KLLOIMO); (2) Khối lượng hàng xuất nhập khẩu (XNK) chính ngạch trong ngày (KLCK); (3) Sự có mặt của các đoàn kiểm tra trên cấp tỉnh (KTRA); (4) Đặc điểm tính chất của lối mở (TCLOIMO); (5) Tính chất của các ngày trong tuần (TCNGAY); và (6) số lượng người Trung Quốc nhập cảnh qua cửa khẩu Lào Cai trong ngày (TQNC).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Về nguồn gốc, số liệu về hàng hóa giao dịch qua lối mở được tổng hợp từ sổ ghi chép của một số chủ kho bãi, “trại cửu vạn”, các chủ “bao hàng” và một số chủ phương tiện vận tải người địa phương. Số liệu của nhómkiểm soát là lưu lượng hàng XNK chính ngạch, lượng người nhập cảnh qua cửa khẩu Quốc tế Lào Cai do Ban quản lý Cửa khẩu quốc tế Lào Cai cung cấp. Kết quả kỳ vọng là hoạt động kiểm tra có sự tác động khác nhau giữa khối lượng hàng và địa điểm giao dịch hàng qua lối mở so với hàng chính ngạch. Nghiên cứu định tính 2.
Phân tích thể chế Nội dung này này gồm (1) Phân tích hệ thống bộ máy quản lý tại các lối mở và (2) Hệ thống, đánh giá các văn bản đã ban hành có liên quan. Trong đó, đối với hệ thống bộ máy, chúng tôi phân tích theo phân cấp quản lý như cấp tỉnh là Ban Chỉ đạo hoạt động thương mại biên giới, cấp huyện xã và các Trạm quản lý tại lối mở. Với hệ thống các văn bản, đối tượng chính là các văn bản quản lý cấp tỉnh và trung ương (cấp bộ và chính phủ). Một số văn kiện ký kết trong chương trình hợp tác kinh tế - thương mại giữa hai nước và hai địa phương cũng được nghiên cứu.
Số liệu dùng để phân tích được thu thập từ hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đã và đang áp dụng; Một số văn kiện ký kết giữa 2 nước và hai địa phương; Các chương trình hợp tác xuyên biên giới; Số liệu từ điều tra phỏng vấn chuyên gia với số đối tượng chính: Lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo một số sở ngành, Ban quản lý cửa khẩu, Hải quan tỉnh, Biên phòng tỉnh, Cục thuế, Cục quản lý thị trường, chính quyền xã và người dân ở khu vực nghiên cứu, các chủ “cửu vạn”, chủ buôn và một số đối tượng khác. Công cụ phân tích chính được sử dụng trong phần này là (1) tổng hợp và phân tích dữ liệu thống kê; (2) ứng dụng môn học Ngoại thương, thể chế và các tác động; và (3) phương pháp nội suy (suy diễn từ một số kết quả nghiên cứu hoạt động thương mại qua cửa khẩu chính) để phân tích vai trò và tác động của biên mậu qua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lối mở đối với phát triển kinh tế địa phương, cũng như tác động của thể chế đối với việc quản lý kinh tế cửa khẩu nói chung. Phân tích các ưu điểm và nhược điểm của lối mở Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện các phân tích về giá trị và đóng góp của các lối mở trong quá trình phát triển kinh tế của địa phương, đặc biệt đối với các cụm dân cư biên giới và là lối thoát cho sự bế tắc của thương mại biên giới. Sau cùng, để đánh giá một cách toàn diện vai trò của lối mở, chúng tôi đưa ra các phân tích về các mặt trái của lối mở, cả về phương diện phát triển kinh tế địa phương, phát triển xã hội và nguồn nhân lực (lao động).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3. Buôn lậu, tham nhũng và các bằng chứng 3. Mối quan hệ ràng buộc giữa các bên Qua quá trình tồn tại và phát triển, đến nay tại các lối mở biên giới đã hình thành nên một hệ thống mạng lưới các mối quan hệ phức tạp. Sự phức tạp đó có thể ví như một lưới thức ăn trong hệ sinh thái.
Ở đó, các điểm kết nối giữa các bên chính là nguồn thu nhập từ các giao dịch thương mại. Các chủ buôn như mắt xích thức ăn đầu tiên, tiếp đến là các chủ bao hàng, các chủ kho và bến bãi, các chủ xe tải chuyên chở, cửu vạn và người dân địa phương. Bao quát tất cả là nhóm cán bộ của một số ban ngành, có vai trò trung tâm điều phối và thu góp lợi nhuận của tất cả các mắt xích. Để thực hiện thành công một giao dịch qua lối mở, các chủ hàng phải thực hiện các giao dịch nhỏ trung gian với các chủ bao hàng, chủ kho bãi, các chủ xe tải, chủ thuyền và cửu vạn.
Đối với các giao dịch trực tiếp, các chủ hàng phải chi trả một khoản “tiền luật”3 trực tiếp cho một số cán bộ thuộc cơ quan chức năng. Khoản “phí” này nằm trong khoản chi cho các chủ bao hàng và trung gian khác nếu giao dịch là gián tiếp. Hình ảnh chúng tôi sử dụng để minh họa đã được đơn giản hóa với nguyên tắc phản ánh trung thực và đầy đủ các mối quan hệ. Trong thực tế còn tồn tại một số nhóm với các tương tác nhỏ mô hình đã bỏ qua, do tác động của chúng là không đáng kể (Hình 3.
3 Được hiểu là khoản tiền hố lộ cán bộ các đơn vị chức năng thường xuyên “có mặt” tại lối mở. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Chủ buôn Chủ bao hàng cấp 1 Chủ xe tải Chủ bao hàng cấp 2 Các đội/trại cửu vạn $ Chủ kho và bến, bãi $ (Chủ bao hàng cấp 3) $ $ $ $ Chủ thuyền $ Cán bộ của một số ban ngành chức năng (Biên phòng, Hải quan, Công an, Cảnh sát, QLTT, Liên ngành, xã,…) Hàng qua biên giới Hình 3.1: Sơ đồ minh họa các mối quan hệ tại lối mở biên giới (Ghi chú: $ là chi phí không chính thức phải chi trả cho các ngành chức năng.) Các mắt xích khác cũng phải chi trả một khoản tương ứng theo thỏa thuận không có văn bản. Điều đáng đáng chú ý là, các chủ bao hàng cấp 1 thường là các nhân vật có quan hệ tốt với các quan chức cao cấp của tỉnh, và thường không trực tiếp lộ diện giao dịch; thứ hai, khoản chi phí cho cán bộ xã do các trung gian chi trả, các chủ hàng và chủ xe tải và cửu vạn không phải chi khoản “phí” này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Bằng chứng thực nghiệm 3. Mô hình nghiên cứu Như đã trình bày ở chương 2, mô hình toán được xây dựng với mục tiêu xác định mối tương quan giữa khối lượng hàng giao dịch qua lối mở và các đợt thanh tra/kiểm tra. Nhóm kiểm soát là khối lượng hàng xuất nhập khẩu chính ngạch qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai. Các mô hình hồi quy được thực hiện theo các bước sau nhằm xác định: 1) Tương quan giữa khối lượng hàng giao dịch qua lối mở và các đợt kiểm tra: KLLOIMOit = 0+1*KTRAt + 2*TCLOIMOi + 3*KTRAt*TCLOIMOi + 4*TCNGAYt + 5TQNCt + 6*TCNGAYt *TQNCt + i (3.1) 2) Tương quan giữa lượng hàng xuất nhập chính ngạch với các đợt kiểm tra: KLCKit = 0 + 1*KTRAt + 2*TCLOIMOi + 3*KTRAt*TCLOIMOi + 4*TCNGAYt + 5*TQNCt + 6*TCNGAYt *TQNCt + i (3.2) Trong đó: KLLOIMOit: Biến phụ thuộc thứ nhất, là khối lượng lượng hàng giao dịch trong ngày t qua lối mở i; KLCKt: Biến phụ thuộc thứ hai, là khối lượng lượng hàng xuất nhập cảnh chính ngạch qua cửa khẩu quốc tế của Lào Cai; KTRAt: Biến giả thứ nhất, có giá trị bằng 1 khi ngày có kiểm tra và bằng không khi không có kiểm tra; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 TCLOIMOi: Biến giả thứ hai, tính chất lối mở, có giá trị bằng 0 khi giao dịch tại bến thông thường (gần đường và trạm kiểm soát) và bằng 1 khi giao dịch tại các bến xa.
TCNGAYt: Biến giả thứ ba, là tính chất ngày, có giá trị bằng 0 khi t là các ngày từ thứ 2 đến thứ 6, bằng 1 khi là thứ 7 và Chủ nhật. TQNCt: Biến kiểm soát, là số lượng người Trung Quốc nhập nhập cảnh qua cửa khẩu bằng giấy thông hành trong ngày t. (KTRAi*TCLOIMO) và (TCNGAY*TQNC) là biến tương tác. i , i : Các phần dư tương ứng.
3) Hệ số tương quan của hoạt động thương mại ở hai khu vực: Hệ số tương quan được tính theo công thức: ∑( − )( − ) = ∑( − ) ( − ) (3.3) Trong đó: R2 là hệ số tương quan; X tương ứng với giá trị hàng giao dịch tại lối mở; Y tương ứng với giá trị hàng XNK chính ngạch. Các giả định KTRA: Khi có kiểm tra có thể gây ảnh hưởng tới khối lượng hàng giao dịch qua các lối mở. Nếu tác động làm gia tăng thì đó là các giao dịch tích cực (có tác dụng như mô hình báo cáo thành tích của lối mở), nếu tác động làm giảm thì có thể hàng hóa giao dịch là trái phép. Kỳ vọng dấu của hệ số 1 < 0; 1 > 0; TCLOIMO: Thông thường, hàng hóa đi qua lối mở gần và chỉ đi các bến xa khi các bến gần bị cấm.