Chương 1. Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp nghiên cứu: trình bày cách tiếp cận, mô hình nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật thu thập, xử lý và phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu: trình bày đặc điểm địa bàn nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực môi trường đầu tư, tình hình thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư mà nhà đầu tư quan tâm. Phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại tỉnh Bến Tre.
Kết luận và kiến nghị: từ kết quả nghiên cứu đề xuất các gợi ý chính sách – giải pháp nên được quan tâm nhằm góp phần nâng cao sự hài lòng của nhà đầu tư, từ đó tăng cường thu hút đầu tư vào tỉnh Bến Tre. Rút ra những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm đầu tư Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), đầu tư là hành động “bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện sự hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng”.
Theo định nghĩa tại Khoản 5, Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2014 “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Dưới góc độ kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Mọi hoạt động đầu tư đều nhằm mang lại những lợi ích xác định. Những lợi ích đạt được của đầu tư có thể là sự tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội.
Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội. Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để phát triển và xây dựng kinh tế, là chìa khóa của sự tăng trưởng kinh tế. Như vậy, mục đích của đầu tư luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai. Bất cứ khoản đầu tư nào cũng chỉ được bỏ ra khi nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu hồi đủ vốn và có lãi trong tương lai.
Vì vậy, mỗi nước, mỗi một địa phương phải tạo những điều kiện để nhà đầu tư đạt được giá trị kỳ vọng mới có thể thu hút được vốn đầu tư vào nước mình, địa phương mình. Khái niệm môi trường đầu tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Môi trường đầu tư là một thuật ngữ không phải mới mẻ nhưng đến nay vẫn có rất nhiều tranh luận về khái niệm này. Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tùy theo mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Theo Vijverberg (2005), khái niệm môi trường đầu tư được hiểu là bao gồm tất cả các điều kiện về kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong đó bao gồm rất nhiều nhân tố tác động tới đầu tư đối với các doanh nghiệp, nhất là các vấn đề liên quan đến chính sách như tài chính, thuế, tín dụng, thương mại, thị trường lao động, cơ sở hạ tầng, chính sách phát triển các khu công nghiệp, các vấn đề liên quan đến thu mua và tiêu thụ, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác. Với khái niệm này, môi trường đầu tư được hiểu khá rộng. Một cách hiểu khác về môi trường đầu tư đó là tổng hợp các yếu tố: điều kiện về pháp luật, kinh tế, chính trị - xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia. Như vậy, môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến việc đầu tư của các nhà đầu tư ở quốc gia hay địa phương nhận đầu tư.
Nó bao gồm các yếu tố: chính trị, chính sách, pháp luật, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hóa – xã hội, nguồn lao động và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế. Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư. Khái niệm sự hài lòng Có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về sự hài lòng. Theo Bachelet (1995), sự hài lòng của khách hàng chính là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay một dịch vụ.
Sự hài lòng của khách hàng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa mong muốn trước đó (hoặc những tiêu chuẩn cho sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thể hiện) và sự thể hiện thực sự của sản phẩm như là một sự chấp nhận sau khi dùng nó (Tse và Wilton, 1988). Theo Kotler và Keller (2006) thì sự hài lòng là mức độ trạng thái của một người, bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm và những kỳ vọng của người đó. Nhìn chung các nhà nghiên cứu xem xét sự hài lòng là cảm giác thoải mái khi khách hàng được đáp ứng như kỳ vọng của họ về sản phẩm, dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng chính là cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ sau khi đã sử dụng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009), trên quan điểm marketing địa phương thì nhà đầu tư đóng vai trò khách hàng và địa phương đóng vai trò nhà cung cấp dịch vụ đầu tư. “Một địa phương thành công khi cộng đồng (người dân và doanh nghiệp) cảm thấy hài lòng với cộng đồng của họ, và kỳ vọng của nhà đầu tư kinh doanh cũng như khách du lịch được thỏa mãn”. Vì vậy các địa phương cần có chiến lược thích hợp để cải thiện địa phương mình.
Điều này cũng có nghĩa là các địa phương (nhà cung cấp) nâng cao chất lượng dịch vụ để nâng cao sự hài lòng của nhà đầu tư (khách hàng). Cơ sở lý thuyết Cho đến nay, các nhà kinh tế học trên thế giới đã nghiên cứu, đúc kết ra nhiều lý thuyết về đầu tư, dịch chuyển đầu tư quốc tế và các vấn đề có liên quan như: lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của doanh nghiệp của Dunning (1977); mô hình ngoại tác của Romer và Lucas (2007); lý thuyết về marketing địa phương. Lý thuyết về đầu tư Theo Dunning (1977), một doanh nghiệp chỉ thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI) khi hội đủ 03 điều kiện: (1) doanh nghiệp phải sở hữu một số lợi thế so với doanh nghiệp khác như: quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của doanh nghiệp; (2) nội vi hóa: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ doanh nghiệp có lợi hơn là bán hay cho các doanh nghiệp khác thuê; và (3) sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu. Lợi thế địa điểm có thể có được nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, rào cản thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư và cả những tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho doanh nghiệp khi hoạt động tại đó.
Mô hình ngoại tác Mô hình ngoại tác của Romer và Lucas (2007) cho thấy có 10 nhân tố tác động đến hành vi đầu tư là: (1) sự thay đổi trong nhu cầu; (2) lãi suất; (3) mức độ phát triển của hệ thống tài chính; (4) đầu tư công; (5) khả năng về nguồn nhân lực; (6) các dự án đầu tư khác trong cùng ngành hay trong các ngành có mối liên kết; (7) tình hình phát triển công nghệ, khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ; (8) mức độ ổn định về môi trường đầu tư: bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô, pháp luật; (9) các quy định về thủ tục và (10) mức độ đầy đủ về thông tin, kể cả thông tin về thị trường, luật lệ, thủ tục, các tiến bộ công nghệ. Lý thuyết về marketing địa phương Về mặt marketing, có thể xem một địa phương hay một quốc gia là một thương hiệu và gọi là “thương hiệu địa phương” để phân biệt với thương hiệu sản phẩm hay dịch vụ của các đơn vị kinh doanh. Theo quan điểm hiện đại thì marketing không phải là chức năng riêng của bộ phận marketing mà là của mọi thành viên. Vì vậy, công việc marketing của một địa phương là nhiệm vụ của mọi thành viên trong địa phương đó.
Marketing địa phương là một sự phối hợp các nguồn lực của địa phương nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu của địa phương (nhà đầu tư, kinh doanh, khách du lịch,…) và để đạt được mục tiêu của địa phương là phát triển kinh tế cũng như gia tăng chất lượng cuộc sống cho mọi thành viên trong địa phương. Lý thuyết về marketing địa phương đã chỉ ra rằng những yếu tố tác động vào sự hài lòng của nhà đầu tư có thể chia thành 03 nhóm chính, đó là (1) cơ sở hạ tầng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 đầu tư; (2) chế độ chính sách, dịch vụ đầu tư và kinh doanh và (3) môi trường làm việc và sinh sống.