Luận văn thạc sĩ ueh nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn quận bình tân tp hồ chí minh đến năm 2025

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh đến năm 2025.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

136
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước

1.2.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Phương pháp chung

1.5.2. Phương pháp cụ thể

1.6. Đóng góp của luận văn

1.7. Kết cấu của luận văn

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

2.1. Một số khái niệm lý luận cơ bản

2.2. Một số phương pháp đo lường nghèo đa chiều

2.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề giảm nghèo bền vững

2.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

2.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giảm nghèo bền vững

2.6. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số địa phương

2.6.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh

2.6.2. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Quận 5, Tp. Hồ Chí Minh

2.6.3. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh

2.7. Những bài học rút ra

3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội quận Bình Tân

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội

3.2. Hoạt động giảm nghèo trên địa bàn quận Bình Tân giai đoạn 2009 – 2017. Những kết quả đạt được

3.3. Một số hạn chế và tồn tại

3.4. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra

4. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN

4.1. Những quan điểm cơ bản

4.2. Phương hướng, mục tiêu chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn quận Bình Tân

4.2.1. Những phương hướng cơ bản

4.2.2. Mục tiêu giảm nghèo bền vững

4.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Bình Tân

4.3.1. Phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người nghèo phù hợp với đặc thù địa bàn sản xuất công nghiệp và dịch vụ

4.3.2. Tăng cường huy động nguồn lực, xã hội hóa hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là sự hỗ trợ từ khu vực sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Bình Tân

4.3.3. Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, tăng cường các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa đáp ứng kịp thời với tốc độ tăng dân số nhanh. Đổi mới công tác tổ chức, kiện toàn bộ máy nhân sự phù hợp với tính chất địa bàn rộng, phức tạp, nhiều thành phần dân cư của quận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Bình Tân

Chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh đã được triển khai từ nhiều năm qua với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Từ năm 1992, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu trong việc giảm nghèo, đặc biệt là trong giai đoạn 2016-2020, khi áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều để xác định hộ nghèo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết để đảm bảo tính bền vững của chính sách này.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của quận Bình Tân

Quận Bình Tân là một trong những quận ven của TP. Hồ Chí Minh, với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Điều này tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho công tác giảm nghèo. Tình hình kinh tế xã hội tại đây có sự phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn tồn tại nhiều hộ nghèo cần được hỗ trợ.

1.2. Lịch sử và tiến trình thực hiện chính sách giảm nghèo

Chính sách giảm nghèo tại quận Bình Tân đã trải qua nhiều giai đoạn, từ việc xác định hộ nghèo dựa trên thu nhập đến việc áp dụng tiêu chí đa chiều. Những thay đổi này nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tế của người dân và đảm bảo tính bền vững trong công tác giảm nghèo.

II. Những thách thức trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Bình Tân vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như tái nghèo, thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và sự chồng chéo trong chính sách cần được giải quyết.

2.1. Nguy cơ tái nghèo và thiếu hụt dịch vụ xã hội

Nhiều hộ nghèo sau khi thoát nghèo vẫn có nguy cơ tái nghèo do thiếu hụt về giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác. Điều này đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ để hỗ trợ người dân duy trì cuộc sống ổn định.

2.2. Sự chồng chéo trong chính sách giảm nghèo

Việc triển khai nhiều chương trình giảm nghèo khác nhau nhưng không đồng bộ đã dẫn đến sự chồng chéo, gây khó khăn trong việc quản lý và thực hiện. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để nâng cao hiệu quả của chính sách.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững

Để nâng cao hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Bình Tân, cần áp dụng các phương pháp tiếp cận mới, bao gồm việc tăng cường huy động nguồn lực và phát triển cơ sở hạ tầng.

3.1. Tăng cường huy động nguồn lực từ cộng đồng

Việc huy động nguồn lực từ cộng đồng và các tổ chức xã hội sẽ giúp tăng cường hiệu quả của các chương trình giảm nghèo. Cần có các chính sách khuyến khích sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện.

3.2. Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn lực cần thiết để thoát nghèo bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về giảm nghèo

Các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn trong công tác giảm nghèo tại quận Bình Tân đã chỉ ra nhiều bài học quý giá. Những kết quả này không chỉ giúp cải thiện đời sống cho người nghèo mà còn góp phần vào sự phát triển chung của quận.

4.1. Các mô hình giảm nghèo hiệu quả

Nhiều mô hình giảm nghèo đã được triển khai thành công tại quận Bình Tân, từ việc hỗ trợ vay vốn đến đào tạo nghề. Những mô hình này cần được nhân rộng và cải tiến để đạt hiệu quả cao hơn.

4.2. Đánh giá tác động của chính sách giảm nghèo

Việc đánh giá tác động của các chính sách giảm nghèo là rất quan trọng để điều chỉnh và hoàn thiện các chương trình. Cần có các nghiên cứu định kỳ để theo dõi và đánh giá hiệu quả của chính sách.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho chính sách giảm nghèo

Chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Bình Tân cần được tiếp tục hoàn thiện và điều chỉnh để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Định hướng tương lai sẽ tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo và đảm bảo tính bền vững của các chương trình.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Cần có các chiến lược phát triển bền vững để đảm bảo rằng người nghèo không chỉ thoát nghèo mà còn có thể phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo là rất quan trọng. Cần có các cơ chế để người dân có thể tham gia vào quá trình ra quyết định và thực hiện các chương trình.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn quận bình tân tp hồ chí minh đến năm 2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG -------- 1. Một số khái niệm lý luận cơ bản 1. Nghèo đơn chiều Khái niệm về nghèo hay nhận dạng về nghèo của từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể. Hầu hết các tiêu chí để xác định nghèo đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người về ăn, mặc, ở , y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.

Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thảo mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 định nghĩa: Nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại (Nguyễn Trọng Hoài, 2005). Theo quá trình phát triển của thế giới, Ngân hàng thế giới cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong báo cáo của mình. Năm 1990 định nghĩa nghèo của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng.

Đến năm 2000 và 2001, Ngân hàng thế giới đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đâu không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ (Nguyễn Trọng Hoài, 2005).

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Ở Việt Nam khái niệm nghèo đói thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất. Khái niệm cho rằng Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư mà thu nhập của họ không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận (Nguyễn Trong Hoài, 2005). Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo xác định dựa trên thu nhập được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối. Nghèo tuyệt đối: Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoản thời gian nhất định.

Trên thế giới các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng thế giới đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Nghèo tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Hộ nghèo được định nghĩa là nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu. Lợi thế chính của phương pháp này là cho phép xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị.

Như vậy, theo cách tính này thì người nghèo tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển thế nào. Tóm lại, tất cả những khái niệm về nghèo đơn nghĩa tuy đa dạng nhưng luôn chứa đựng ba khía cạnh cơ bản và quan trọng: thứ nhất, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thứ hai, người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghèo đa chiều Năm 1997, Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã đưa ra khái niệm nghèo tổng hợp là sự thiếu cơ hội và sự lựa chọn bảo đảm các điều kiện để phát triển toàn diện con người về điều kiện vật chất, giáo dục, tiếp cận y tế, chăm sóc sức khỏe.

Đến năm 2003, tổ chức này tiếp tục phát triển khái niệm nghèo khổ trên khía cạnh quyền lợi cơ bản của con người quyền tự do, quyền bình đẳng, sự khoan dung. Nội dung các chỉ tiêu dùng để xác định tình trạng nghèo đói của một quốc gia lúc này bao gồm: % dân số tử vong dưới 40 tuổi; % người lớn mù chữ; % người không tiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe (tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ không được cung cấp nước sạch, tỷ lệ không được tham gia y tế cơ bản). Dựa trên các thay đổi này, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố cần xem xét ngoài thu nhập để xác định tình trạng nghèo đói của người dân. Theo Ngân hàng thế giới, nghèo có thể thể hiện qua 8 yếu tố gồm: - Nghề nghiệp: người lao động trong khu vực nông nghiệp thường có thu nhập thấp hơn người lao động trong khu vực công nghiệp và thương mại dịch vụ do phải gánh chịu nhiều rủi ro thiên tai, dịch bệnh, giá cả không ổn định.

- Trình độ học vấn: người có trình độ học vấn thấp thường thiếu hiểu biết và thiếu khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn để phục vụ cho sản xuất tạo thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy họ thường thất bại trong sản xuất dẫn đến nghèo. Tương tự trong sản xuất công nghiệp, công nhân có trình độ học vấn thấp cũng gặp khó khăn trong việc đòi hỏi các kỹ năng và kĩ thuật theo yêu cầu công việc, khó có khả năng thăng tiến nên thu nhập của họ thấp hơn. Các bậc cha mẹ có trình độ học vấn thấp thường không nhận thức được lợi ích của giáo dục, từ đó không tạo điều kiện cho con em đến trường và không khuyến khích học lên cao.

- Giới tính của chủ hộ: ở các nước đang phát triển, còn có thành kiến về vai trò của người phụ nữ nên giới tính có ảnh hưởng đến khả năng nghèo của chủ hộ. Gia đình có chủ hộ là nữ thì có khả năng nghèo hơn là nam giới, đặc biệt là khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 nông thôn, nơi mà phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với việc làm thu nhập cao, cuộc sống dựa vào thu nhập của nam giới. - Quy mô hộ gia đình số thành viên của hộ gia đình càng cao thì mức chi tiêu bình quân đầu người càng thấp và tỷ lệ người phụ thuộc càng cao nên khả năng nghèo của hộ càng cao. Thu nhập của hộ được tạo ra từ một số lao động nhưng lại phải trang trải cho chi tiêu của tất cả các thành viên còn lại.

- Quy mô diện tích đất: Đất là tư liệu sản xuất chính và mang tính quyết định cho hộ gia đình làm nông nghiệp để tạo ra thu nhập. Do đó thiếu đất sản xuất có thể dẫn đến tình trạng nghèo. - Thành phần dân tộc: Người dân tộc thiểu số thường định cư tại vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa nên điều kiện sống khó khăn và trình độ dân trí thấp hơn vùng trung tâm. Tình trạng bất bình đẳng giữa các dân tộc cũng dẫn đến tình trạng nghèo.

Sự cô lập của dân tộc thiểu số dẫn đến sự khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội. - Khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức: có ý nghĩa quan trọng trong việc đầu tư sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập và là nhân tố quan trọng để hộ gia đình thoát nghèo. Nếu không tiếp cận nguồn tín dụng thì hộ gia đình thiếu vốn sản xuất nên đầu tư thấp, năng suất thấp. Tín dụng là công cụ hiệu quả giúp người dân khai thác tốt tiềm năng đất đai, lao động tiến tới thoát nghèo, giảm nghèo.

- Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng gồm đường giao thông, điện thắp sáng, nước sạch, trường học, hệ thống thông tin liên lạc.đóng vai trò quan trọng trong việc thoát nghèo. Cơ sở hạ tầng phát triển tạo nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập và phát triển kinh tế. Tương tự trong việc xác định người nghèo theo cách nhìn đa chiều ở nhiều yếu tố xã hội khác nhau, Ruggeri – Laderchi, Saith và Stewart quan sát tại Ấn Độ vào năm 2009 có đến 43% trẻ em và trên 50% người lớn rơi vào tình trạng nghèo về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 năng lực (áp dụng chỉ số giáo dục hoặc chỉ số y tế) mà không nghèo về tiền tệ và tương tự, hơn một nửa số trẻ em nghèo bị suy dinh dưỡng không phải do thiếu hụt về thu nhập. Mehta (2003) xác định nghèo mãn tính ở 379 quận tại 15 tiểu bang lớn của India, Hoa Kỳ thông qua các biến/chỉ số như sự thất học, tỷ lệ chết ở trẻ em, mức sản xuất nông nghiệp thấp, nghèo về cơ sở hạ tầng.

Santos và Ura (2008) đã ước lượng nghèo đa chiều ở Bhutan với 5 chiều được sử dụng cho cả hai khu vực thành thị và nông thôn gồm thu nhập, giáo dục, phòng ở có sẵn, tiếp cận điện và tiếp cận nước uống. Hai chiều khác được sử dụng cho khu vực nông thông như tiếp cận đường đi và tiếp cận nguồn đất sở hữu. Dữ liệu điều tra phỏng vấn Y tế quốc gia của Mỹ năm 2004 đối với người từ 19 tuổi trở lên (mẫu khảo sát là 45.884 người) sử dụng bốn chỉ số đó là: - Thu nhập: một người thiếu hụt khi sống trong một gia đình nằm dưới chuẩn nghèo về thu nhập; - Sức khỏe: một người được cho là thiếu hụt nếu người này tự đánh giá tình trạng sức khỏe là thường thường hoặc yếu; - Bảo hiểm y tế: một người được coi là thiếu hụt nếu không có bảo hiểm y tế; - Giáo dục: một người được coi là thiếu hụt nếu không có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ