Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết và thực tiễn để hình thành đề tài cũng như các vấn đề nghiên cứu và khoảng trống tri thức. Bên cạnh đó, chương này cũng đề cập đến những mục tiêu cần đạt được của đề tài. Phương pháp nghiên cứu, các giới hạn và các thuật ngữ mới được giới thiệu. Cuối cùng là phác thảo nội dung trình bày của luận án.
Cơ sở hình thành đề tài Lý thuyết về nguồn lực tri thức thừa nhận rằng, bên cạnh các nguồn lực cổ điển: đất đai, lao động và vốn, tri thức được xem là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và quốc gia (Cole, 1998). Theo báo cáo của tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development: OECD); năm 1998, 55% tài sản của thế giới được tổng hợp bởi tri thức (Curado, 2006). Nền kinh tế thay đổi từ sản xuất dựa trên vật liệu sang sản xuất dựa trên thông tin tri thức đã nâng cao giá trị của lao động. Các chuyên gia cho rằng muốn nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hiện đại, doanh nghiệp cần phải chuyển đổi sang mô hình sản xuất kinh doanh dựa trên nền tảng tri thức (Curado, 2006; Bollinger & Smith, 2001).
Thật vậy, lý thuyết về nguồn lực tri thức (knowledge-based view of the firm) đã khẳng định tri thức là tài sản chiến lược của doanh nghiệp, là tài sản có thể tạo ra được những lợi thế cạnh tranh so với đối thủ (Barney, 1991; Grant, 1996). Tri thức của một tổ chức (organizational knowledge) được định hình và phát triển theo nhiều cách: nghiên cứu sáng tạo, giao dịch trên thị trường hoặc thu nhận thông qua học tập (Tsai & Shih, 2004). Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh, chi phí cho nghiên cứu sáng tạo thường rất cao, lợi ích doanh nghiệp thu lại được thường thấp hơn so với chi phí bỏ ra (Sheng-Tun & Minh-Hong, 2009). Thêm vào đó, có loại tri thức, đặc biệt là tri thức ẩn tàng (tacit knowledge), không thể giao dịch được trên thị trường bởi đặc tính “ẩn” của nó.
Vì vậy, thu nhận tri thức thông qua học tập (học tập tổ chức) là cách 17 thức phổ biến các doanh nghiệp thực hiện để làm giàu kho tri thức của mình (Easterby- Smith & ctg, 2008). Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và cạnh tranh dựa trên nền tảng tri thức (knowledge- based competition), liên minh chiến lược quốc tế (international strategic alliances) được xem là một phương tiện, một cầu nối cho các quá trình quản trị tri thức (Hamel, 1991). Liên minh chiến lược quốc tế được định nghĩa là sự hợp tác lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động hỗ tương giữa hai hay nhiều doanh nghiệp từ các nước khác nhau nhằm mang lại lợi ích cho các bên tham gia (Inkpen, 1998). Trong vòng 25 năm qua, số lượng các liên minh chiến lược tăng một cách đáng kể (Dyer & ctg, 2004) và nó được xem là một hình thức tổ chức để thiết lập và duy trì lợi thế cạnh tranh (Grant, 1996; Simonin, 2004).
Nhiều chuyên gia nhận định rằng các quá trình học tập tổ chức như sáng tạo, thu nhận và ứng dụng tri thức đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển cũng như tồn tại của liên minh (Inkpen & Beamish, 1997; Kogut & Zander, 1992; Lyles & Salk, 1996). Nói chung, học tập và quản trị tri thức trong liên minh đã trở nên một vấn đề quản lý quan trọng trong thời đại kinh tế tri thức (Knwledge-based economy, Collins & Hitt, 2006). Từ những công trình ở thập kỷ 60s của thế kỷ trước (Cyert & March, 1963; Cangelosi & Drill, 1965), các nhà nghiên cứu đã tập trung vào nhiều khía cạnh của việc học ở trong tổ chức, với cố gắng để tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi như: Học tập tổ chức nghĩa là gì? Nó diễn ra như thế nào? Chủ thể nào học tập? Học tập những gì? Những yếu tố nào thúc đẩy hoặc cản trở việc học tập? Hoặc có những kiểu học tập (learning types) như thế nào? Đến nay chủ đề học tập tổ chức đã được nghiên cứu nhiều (Rebelo & Gomes, 2008). Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề liên quan đến chủ đề này cần được nghiên cứu, tìm hiểu thêm (Rahim, 1995; Easterby-Smith & ctg, 2008).
Nổi trội lên trong vấn đề tranh cãi giữa các học giả là học tập tổ chức được xem là qúa trình hay được xem là kết quả (Dodgson, 1993). Liên quan tới quan điểm xem học tập tổ chức là một quá trình, có một số vấn đề cần tìm hiểu thêm, trong đó: (1) Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập vẫn chưa đầy đủ và hiểu biết của chúng ta về chúng 18 vẫn còn hạn chế (van Wijk & ctg, 2008), (2) Các cấp độ học tập, học tập thích nghi và học tập sáng tạo, diễn ra như thế nào trong các doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chúng ra sao cần được nghiên cứu sâu hơn? (Chiva & ctg, 2010, Meier, 2011) và (3) Việc học dẫn đến thay đổi nhận thức của các doanh nghiệp như thế nào (Mazur, 1990)? Đặc biệt, các nghiên cứu trước đây về học tập tổ chức thường là những lý giải định tính (Nonaka, 1994; Davenport & Prusak, 1998; Massey & ctg, 2002), chỉ một ít là nghiên cứu thực nghiệm số đông (Choi & Lee, 2003; Darroch & McNaughton, 2003; Simonin, 1997, Tanriverdi, 2005, Tsang, 2002; Hau & Evangelista, 2007). Do vậy, xuất hiện nhiều lời kêu gọi tăng cường thêm những nghiên cứu thực nghiệm số đông trong lĩnh vực này (Huber, 1991; Simonin, 1999b, 2004; Zack & ctg, 2009). Thực tế tại các quốc gia đang phát triển, ví dụ: Trung Quốc, Hungary…việc các doanh nghiệp địa phương liên doanh với các doanh nghiệp từ các quốc gia phát triển để học tập công nghệ mới cũng như tri thức quản lý là điều xảy ra phổ biến (Lyles & Salk, 1996; Tsang, 2002).
Riêng tại Việt Nam, từ khi luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực, năm 1987, thu hút đầu tư nước ngoài ngày một tăng lên (Mai, 2012). Việc hợp tác với các doanh nghiệp từ các quốc gia phát triển đã đem lại nhũng lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp địa phương, giúp các doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh, xuất khẩu (Gorg & Greenaway, 2004). Đặc biệt, sự hợp tác thúc đẩy học tập và thu nhận tri thức từ các doanh nghiệp địa phương (Hau & Evangelista, 2007). Từ đây đặt ra nhu cầu tìm hiểu về sự học tập thu nhận tri thức này.
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc học tập? và việc học tập sẽ giúp doanh nghiệp địa phương thay đổi những gì? Kết hợp cả yêu cầu về mặt lý thuyết và thực tiễn vừa được nêu, đề tài này được đưa ra với mong muốn một góp phần nhỏ trong việc lý giải cũng như hiểu biết thêm việc các doanh nghiệp liên doanh học tập thu nhận tri thức từ các công ty mẹ nước ngoài như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc học? Học tập dẫn tới kết quả ra sao? 19 1. Các vấn đề nghiên cứu và khoảng trống tri thức (knowledge gaps) 1. Học tập được xem là quá trình Học tập tổ chức được định nghĩa khác nhau bởi các học giả (Dodgson, 1993). Lý do là họ xuất phát từ các vị trí khác nhau và với nền tảng tri thức khác nhau.
Các nhà khoa học quản lý và các nhà kinh tế học có xu hướng chỉ xem xét đến kết quả của học tập. Theo họ, học tập là hoạt động làm tăng cường và duy trì lợi thế cạnh tranh. Ngược lại, các nhà lý thuyết về tổ chức và tâm lý xem xét đến qúa trình của học tập (Process of learning), có nghĩa là học tập là một quá trình bao gồm các yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra (Huber, 1991). Về chủ đề liên minh chiến lược, hầu hết các nghiên cứu gần đây đều tập trung vào các vấn đề như là hình thức liên minh (liên doanh, nhượng quyền thương hiệu…), các yếu tố ảnh hưởng đến việc hợp tác (Makhija & Ganesh, 1997).
Riêng quá trình học tập mà thông qua đó các đối tác trong liên minh học tập và thu nhận tri thức từ đối tác chưa được chú trọng nghiên cứu nhiều (Hau & Evangelista, 2007). Thêm vào đó, hầu hết các nghiên cứu về học tập trong liên minh chiến lược quốc tế trước đây chỉ dừng lại ở các nghiên cứu lý thuyết (Inkpen, 2000; Mohr & Sengupta, 2002) và chỉ một ít đi xa hơn bằng các nghiên cứu thực nghiệm (Lyles & Salk, 1996; Simonin, 1999b; Hau & Evangelista, 2007). Quan điểm xem xét học tập là quá trình cho chúng ta biết rằng quá trình học tập chịu sự tác động của các yếu tố thúc đẩy và hạn chế nào, việc học tập diễn ra ra sao và kết quả học tập ảnh hưởng đến hoạt động và nhận thức của doanh nghiệp như thế nào? 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập thu nhận tri thức Mặc dầu nghiên cứu về học tập thu nhận tri thức giữa các tổ chức đang phát triển, những hiểu biết của chúng ta về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập thu nhận tri thức vẫn còn chưa rõ ràng (van Wijk & ctg, 2008).
Yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập thu nhận tri thức có nghĩa là yếu tố quyết định đến việc dễ dàng hay khó khăn, tốc độ nhanh hay chậm và chất lượng của việc thu nhận tri thức (van Wijk & ctg, 2008; Lane & ctg, 2001). Vai trò quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu nhận 20 tri thức trong liên minh chiến lược đã được xem xét trong một số nghiên cứu (Easterby-Smith & ctg, 2008; Hau & Evangelista, 2007, Lyles & Salk, 1996). Tìm hiểu, nghiên cứu và thống kê một cách đầy đủ về các yếu tố này sẽ dẫn đến những lợi ích cả về mặt lý thuyết và thực tiễn quản lý (Khamseh & Dominique, 2008). Các cấp độ học tập trong các doanh nghiệp Theo Miner & Mezias (1996), trong lý thuyết về học tập tổ chức, có hai dòng nghiên cứu chính: nghiên cứu về sự thay đổi tiệm tiến (incremental change) và nghiên cứu về sự thay đổi bản chất (radical change).
Đối với thay đổi tiệm tiến, Cyert & March (1963) xem việc học của tổ chức, doanh nghiệp là sự gia tăng về chiều rộng. Theo đó, các thói quen và hành vi thích ứng của doanh nghiệp là thể hiện cho việc học ở cấp độ này (Miner & Mezias, 1996). Đây được gọi là quá trình học tập thích nghi. Đối với thay đổi bản chất, học tập là quá trình làm thay đổi nền tảng tri thức của doanh nghiệp.
Đây được gọi là quá trình học tập sáng tạo.