Tổng quan nghiên cứu

Công tác kiểm nghiệm và giám sát chất lượng dược phẩm là mắt xích then chốt trong chuỗi cung ứng y tế, quyết định trực tiếp đến hiệu quả điều trị và tính an toàn của người bệnh. Tại tỉnh Bắc Ninh, mạng lưới phân phối dược phẩm phát triển nhanh chóng với 1.054 cơ sở sản xuất và kinh doanh, bao gồm 68 công ty dược phẩm, mỹ phẩm cùng 986 nhà thuốc, quầy thuốc và đại lý. Sự gia tăng nhanh về số lượng chủng loại và dạng bào chế đòi hỏi cơ quan kiểm nghiệm địa phương phải nâng cao năng lực kỹ thuật nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe như GLP và ISO/IEC 17025:2017.

Luận văn chuyên khoa cấp I ngành Tổ chức quản lý dược của tác giả Nguyễn Viết Khánh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lã Thị Quỳnh Liên tại Trường Đại học Dược Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán đánh giá thực trạng kiểm soát chất lượng thuốc hóa dược trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu xác định hai mục tiêu chính: mô tả cơ cấu các mẫu thuốc hóa dược được kiểm nghiệm và phân tích sâu khả năng kiểm nghiệm dạng thuốc viên nén không bao tại Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh trong năm 2020.

Kết quả phân tích cho thấy trong năm 2020, đơn vị đã tiếp nhận và kiểm nghiệm 1.022 mẫu (đạt 120,2% kế hoạch chung), riêng thuốc hóa dược đạt 659 mẫu (đạt 131,8% kế hoạch giao). Tuy nhiên, tỷ lệ mẫu thuốc viên nén không bao được kiểm tra đầy đủ 100% các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn cơ sở và Dược điển Việt Nam chỉ đạt 14,2%, trong khi có tới 85,8% số mẫu chưa được thực hiện trọn vẹn mọi chỉ tiêu kỹ thuật. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác giúp các nhà quản lý y tế hoạch định chiến lược đầu tư trang thiết bị, bổ sung nhân lực và hoàn thiện quy trình kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống quản lý chất lượng dược phẩm toàn diện và khung pháp lý hiện hành của Bộ Y tế Việt Nam. Cơ sở lý thuyết trọng tâm bao gồm:

  • Tiêu chuẩn thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP) và tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017: Khung chuẩn mực quốc tế quy định các yêu cầu chung về năng lực thử nghiệm, hiệu chuẩn, quản lý hệ thống thiết bị, môi trường thử nghiệm và trình độ kiểm nghiệm viên. Luận văn lấy tiêu chí phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn để làm thước đo đánh giá năng lực thực tế.
  • Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Dược điển Việt Nam (DĐVN V): Văn bản pháp lý kỹ thuật cao nhất quy định các mức chất lượng bắt buộc, phương pháp thử nghiệm chung và chuyên luận riêng cho từng loại hoạt chất. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng bao gồm: định tính hoạt chất, định lượng hàm lượng, độ đồng đều khối lượng (ĐĐKL), độ đồng đều hàm lượng (ĐĐHL), phép thử độ hòa tan, độ tan rã và xác định giới hạn tạp chất liên quan.
  • Danh mục phân loại tác dụng dược lý: Căn cứ theo Thông tư 30/2018/TT-BYT của Bộ Y tế quy định danh mục thuốc hóa dược, sinh phẩm thuộc phạm vi thanh toán bảo hiểm y tế, giúp phân loại 27 nhóm tác dụng điều trị phục vụ phân tích cơ cấu mẫu lấy.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang thông qua hình thức hồi cứu toàn bộ dữ liệu kiểm nghiệm sẵn có. Việc lựa chọn thiết kế hồi cứu cho phép bao quát toàn bộ hoạt động kiểm tra chất lượng trong trọn vẹn một năm tài chính mà không làm biến động quy trình vận hành thường nhật của đơn vị.
  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Dữ liệu được trích xuất từ 1.022 hồ sơ kiểm nghiệm mẫu lấy trong năm 2020 tại Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh. Sau khi loại trừ 241 mẫu đông dược, dược liệu; 25 mẫu mỹ phẩm và 97 mẫu thực phẩm chức năng, nghiên cứu thu được mẫu nghiên cứu chính thức gồm 659 hồ sơ thuốc hóa dược (phục vụ mục tiêu 1). Từ 659 hồ sơ này, tác giả tiếp tục chọn lọc toàn bộ 316 hồ sơ thuốc viên nén không bao để đi sâu phân tích năng lực kiểm nghiệm (phục vụ mục tiêu 2).
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn thể có chủ đích, thu thập 100% các phiếu kiểm nghiệm thuốc hóa dược thỏa mãn tiêu chí nghiên cứu nhằm triệt tiêu sai số chọn mẫu.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu từ các phiếu ghi nhận thông tin được làm sạch, mã hóa biến số và nhập liệu bằng phần mềm Microsoft Excel. Nghiên cứu sử dụng các thuật toán thống kê mô tả, tính toán tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm tương đối để so sánh mức độ hoàn thành so với kế hoạch và đối chiếu với tiêu chuẩn kiểm nghiệm.
  • Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Quá trình thu thập, xử lý và phân tích số liệu được triển khai từ ngày 03/01/2022 đến ngày 03/05/2022 tại Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh, địa chỉ tại phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 659 hồ sơ thuốc hóa dược và 316 hồ sơ thuốc viên nén không bao ghi nhận các phát hiện cốt lõi:

  • Vượt mức số lượng mẫu nhưng hụt chỉ tiêu hoạt chất: Trung tâm đã kiểm nghiệm 659 mẫu thuốc hóa dược, vượt 31,8% so với kế hoạch 500 mẫu được giao. Tuy nhiên, số lượng hoạt chất kiểm nghiệm được chỉ đạt 89 trên tổng số 110 hoạt chất theo kế hoạch, tương ứng tỷ lệ hoàn thành 80,9%.
  • Cơ cấu nguồn gốc và thành phần mất cân đối: Thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ trọng áp đảo với 609 mẫu (tỷ lệ 92,4%), trong khi thuốc nhập khẩu chỉ có 50 mẫu (tỷ lệ 7,6%). Xét theo thành phần, thuốc đơn thành phần chiếm 87,6% (577 mẫu), còn thuốc đa thành phần chỉ chiếm 12,4% (82 mẫu).
  • Phân bố theo nhóm tác dụng dược lý và địa bàn lấy mẫu: Đơn vị kiểm nghiệm được 14 trên tổng số 27 nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/2018/TT-BYT. Trong đó, nhóm thuốc kháng sinh - chống nhiễm khuẩn (137 mẫu, chiếm 20,7%) và nhóm hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm (129 mẫu, chiếm 19,7%) chiếm tỷ lệ cao nhất. Mẫu lấy chủ yếu tập trung tại khu vực huyện với 378 mẫu (57,4%) và loại hình quầy thuốc với 349 mẫu (52,9%). Trạm y tế xã, phường hoàn toàn không có mẫu nào được lấy kiểm tra (0%).
  • Năng lực kiểm nghiệm thuốc viên nén không bao còn nhiều hạn chế: Trong 316 mẫu viên nén không bao, chỉ có 45 mẫu được kiểm nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định (14,2%), có tới 271 mẫu không kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu (85,8%). Các chỉ tiêu cơ bản như cảm quan tính chất đạt 100% (316/316 mẫu), độ đồng đều khối lượng đạt 100% (187/187 mẫu) và độ rã đạt 100% (117/117 mẫu). Ngược lại, các chỉ tiêu kỹ thuật cao bộc lộ khoảng trống lớn: định lượng bằng HPLC không thực hiện được mẫu nào (0/111 mẫu yêu cầu, đạt 0%), độ hòa tan bằng HPLC đạt 0/59 mẫu (0%), độ đồng đều hàm lượng chỉ đạt 1/51 chỉ tiêu (2,0%) và kiểm tra tạp chất liên quan chỉ thực hiện được 15/100 chỉ tiêu (15,0%).

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu ở mức thấp (14,2%) phản ánh những rào cản kỹ thuật mang tính hệ thống tại các trung tâm kiểm nghiệm tuyến tỉnh. Dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa qua 24 bảng biểu thống kê chi tiết, giúp làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa sự thiếu hụt nguồn lực và năng lực phân tích.

Nguyên nhân cốt lõi khiến 100% các phép thử định lượng và độ hòa tan bằng phương pháp HPLC không thể triển khai bắt nguồn từ việc thiếu đồng bộ hệ thống trang thiết bị. Trung tâm sở hữu 39 thiết bị máy móc thì toàn bộ đều có niên hạn sử dụng trên 10 năm, trong đó có 4 thiết bị hư hỏng hoàn toàn và 3 thiết bị suy giảm hiệu năng nghiêm trọng. Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao thiếu các module phụ trợ hiện đại và vật tư cột sắc ký chuyên dụng. Thêm vào đó, việc thiếu hụt hóa chất tinh khiết và chất chuẩn đối chiếu phân tích cùng với hạn chế về đào tạo chuyên sâu đã ngăn cản kiểm nghiệm viên thực hiện các chỉ tiêu phức tạp như 4-Aminophenol (0/27 mẫu) hay kiểm tra amin thơm tự do (0/14 mẫu).

Khi so sánh với các nghiên cứu tại các địa phương lân cận, tỷ lệ mẫu thuốc nội địa tại Bắc Ninh (92,4%) có nét tương đồng với Trung tâm Kiểm nghiệm Hà Nam năm 2018 (89,9%) và Hải Phòng năm 2019 (88,2%). Điều này cho thấy xu hướng chung của các trung tâm kiểm nghiệm địa phương là ưu tiên kiểm soát nguồn thuốc sản xuất trong nước nhằm tối ưu hóa nguồn kinh phí mua mẫu còn hạn hẹp. Tuy nhiên, việc bỏ trống kiểm nghiệm tại tuyến y tế cơ sở và tỷ lệ kiểm tra thuốc nhập khẩu chỉ đạt 7,6% đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc kế hoạch lấy mẫu hàng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và từng bước hoàn thiện hệ thống kiểm nghiệm đạt chuẩn GLP tại Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hiện đại hóa và đầu tư đồng bộ trang thiết bị kiểm nghiệm: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Sở Y tế cần ưu tiên phê duyệt đề án trang bị mới ít nhất 02 hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) tích hợp đầu dò tự động, 01 máy quang phổ tử ngoại - khả kiến (UV-Vis) thế hệ mới và 01 máy thử độ hòa tan 8 vị trí trong giai đoạn 2023–2025. Giải pháp này nhằm nâng tỷ lệ thực hiện các phép thử HPLC từ 0% lên mức tối thiểu 75% vào năm 2025.
  2. Bảo đảm nguồn kinh phí mua sắm chất chuẩn và hóa chất phân tích: Ban Giám đốc Trung tâm cần thiết lập danh mục chất chuẩn ưu tiên, chủ động phối hợp với Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương để cung ứng kịp thời chất chuẩn gốc cho các hoạt chất thuộc danh mục thuốc thiết yếu. Mục tiêu đặt ra là giải quyết dứt điểm 100% các trường hợp tồn đọng phép thử do thiếu chất chuẩn trong niên độ 2023–2024.
  3. Tăng cường đào tạo và chuẩn hóa năng lực cán bộ: Phòng Tổ chức cán bộ phối hợp với các viện chuyên ngành triển khai chương trình đào tạo liên tục, cử tối thiểu 4 đến 6 kiểm nghiệm viên tham gia các khóa tập huấn chuyên sâu về thẩm định quy trình phân tích, vận hành HPLC và kỹ thuật kiểm tra tạp chất liên quan định kỳ 6 tháng một lần từ năm 2023.
  4. Tái cấu trúc kế hoạch lấy mẫu và mở rộng mạng lưới giám sát: Đơn vị cần phân bổ lại cơ cấu lấy mẫu hàng năm, nâng tỷ lệ mẫu thuốc nhập khẩu lên trên 15% và đưa chỉ tiêu lấy mẫu tại Trạm Y tế xã, phường đạt tối thiểu 5% tổng số mẫu lấy từ năm 2023 nhằm đảm bảo tính bao phủ toàn diện trên toàn địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Lãnh đạo và kiểm nghiệm viên tại các Trung tâm kiểm nghiệm tuyến tỉnh: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận đánh giá năng lực thực tế, nhận diện các điểm nghẽn về máy móc và chỉ tiêu kỹ thuật, từ đó làm căn cứ xây dựng lộ trình nâng cấp phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn GLP và ISO/IEC 17025:2017.
  • Cơ quan quản lý Dược và Sở Y tế các địa phương: Tài liệu là cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách mua mẫu, đầu tư công nghệ phân tích và chỉ đạo công tác thanh kiểm tra chất lượng thuốc lưu hành trên thị trường.
  • Bộ phận Đảm bảo chất lượng (QA) và Kiểm soát chất lượng (QC) tại các doanh nghiệp dược phẩm: Giúp các cơ sở sản xuất và kinh doanh nắm bắt các chỉ tiêu kỹ thuật thường gặp khó khăn trong kiểm nghiệm lưu thông (như độ hòa tan, tạp chất, độ đồng đều hàm lượng) để chủ động nâng cao chất lượng hồ sơ tiêu chuẩn cơ sở.
  • Học viên sau đại học, giảng viên và sinh viên ngành Dược: Là nguồn tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Dược, đặc biệt về thiết kế nghiên cứu mô tả hồi cứu và kỹ thuật phân tích số liệu kiểm nghiệm dược phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh vượt kế hoạch về số lượng mẫu nhưng không đạt chỉ tiêu về số hoạt chất năm 2020? Năm 2020, Trung tâm thực hiện 659/500 mẫu thuốc hóa dược (đạt 131,8% kế hoạch số mẫu) nhưng chỉ kiểm tra được 89/110 hoạt chất (đạt 80,9% kế hoạch hoạt chất). Nguyên nhân do đơn vị lấy lặp lại nhiều mẫu của các hoạt chất phổ biến, trong khi một số hoạt chất mới chưa thể phân tích do thiếu chất chuẩn đối chiếu và máy sắc ký chuyên dụng.

Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu của viên nén không bao chỉ đạt 14,2% là gì? Trong 316 mẫu viên nén không bao, có tới 85,8% mẫu không làm đủ chỉ tiêu. Lý do chính là trang thiết bị của Trung tâm đều vận hành trên 10 năm và xuống cấp, không đáp ứng được các phép thử hiện đại như HPLC (111 mẫu không thể định lượng) và thiếu hóa chất, chất chuẩn để thử tạp chất liên quan (85 mẫu bỏ trống).

Vì sao tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước được kiểm nghiệm chiếm tới 92,4%? Thuốc nội địa chiếm 609/659 mẫu do nguồn kinh phí được cấp cho việc mua mẫu kiểm nghiệm còn hạn chế, trong khi giá thành thuốc nhập khẩu thường cao hơn đáng kể. Việc ưu tiên thuốc nội giúp Trung tâm tối ưu hóa số lượng mẫu lấy để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch giao của ngành y tế.

Những chỉ tiêu chất lượng nào của viên nén không bao đạt tỷ lệ hoàn thành 100%? Trung tâm đã thực hiện thành công 100% các chỉ tiêu kiểm nghiệm cơ bản, bao gồm: chỉ tiêu cảm quan tính chất (316/316 mẫu), chỉ tiêu xác định độ đồng đều khối lượng (187/187 mẫu) và chỉ tiêu thử độ tan rã (117/117 mẫu) nhờ sử dụng các thiết bị đo lường thông thường và phương pháp hóa học cổ điển.

Luận văn đề xuất giải pháp kỹ thuật cấp bách nào để chuẩn hóa hệ thống kiểm nghiệm? Giải pháp cấp bách nhất là đầu tư mới 02 hệ thống máy HPLC tự động và máy thử độ hòa tan 8 vị trí trong giai đoạn 2023–2025, kết hợp đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật sắc ký cho đội ngũ kiểm nghiệm viên nhằm nâng tỷ lệ thực hiện chỉ tiêu định lượng hiện đại từ 0% lên trên 75%.

Kết luận

  • Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh hoàn thành vượt mức số lượng mẫu kiểm nghiệm năm 2020 (1.022/850 mẫu, đạt 120,2%), riêng thuốc hóa dược đạt 659 mẫu (131,8% kế hoạch).
  • Cơ cấu kiểm nghiệm còn thiếu cân đối khi tập trung chủ yếu vào thuốc sản xuất trong nước (92,4%), thuốc đơn thành phần (87,6%) và chỉ hoàn thành 80,9% kế hoạch hoạt chất.
  • Năng lực kiểm nghiệm thuốc viên nén không bao bộc lộ khoảng trống kỹ thuật lớn với 85,8% số mẫu không được thử nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu chất lượng bắt buộc.
  • Toàn bộ các phép thử định lượng và độ hòa tan bằng phương pháp HPLC đạt tỷ lệ thực hiện 0% do hệ thống thiết bị cũ kỹ và thiếu hụt chất chuẩn phân tích.
  • Đề tài đặt nền móng khoa học quan trọng cho lộ trình đầu tư trang thiết bị sắc ký giai đoạn 2023–2025, hướng tới mục tiêu xây dựng phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn GLP toàn diện.