ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc viên nén được sử dụng phổ biến nhất trong các dạng bào chế của thuốc, thuốc được chia liều chính xác cho từng viên, tiện sử dụng, tương đối an toàn, dễ bảo quản, tồn trữ, vận chuyển và mang theo. Thuốc thường được dùng đường uống, có kích thước nhỏ, dễ che dấu mùi vị hơn thuốc bột, cốm và các loại thuốc lỏng khác. Thuốc có ưu điểm hơn đường tiêm, tiêm truyền là an toàn, không có yêu cầu cao về độ nhiễm khuẩn như thuốc tiêm, tiêm truyền, nếu uống nhầm hoặc ngộ độc thuốc có thể xử lý bằng gây nôn, rửa ruột để tránh hấp thu vào máu. Viên nén có thể che dấu được mùi vị nhất là mùi vị khó chịu ảnh hưởng đến người sử dụng thuốc, thuốc viên nén thường có tuổi thọ cao hơn nhiều loại thuốc khác do nó là một khối rắn, dược chất ít bị tiếp xúc với môi trường xung quanh.
Trên thị trường hiện nay đã có rất nhiều dạng bào chế ở nhiều thể trạng khác nhau như thuốc rắn có thuốc bột, thuốc cốm, viên nén, viên nang, thuốc bán rắn có mỡ, kem, gel… tất cả đều rất phổ biến, trong đó, dạng viên nén vẫn luôn thường được xem như biểu tượng của thuốc chiếm số lượng cao nhất trong các dạng bào chế thuốc đang lưu hành trên thị trường, chiếm khoảng ⅔ số dược phẩm được lưu hành trên thị trường hiện nay trên thế giới, tại Việt Nam nói chung và tại Thanh Hóa nói riêng. Tuy nhiên, Hệ thống kiểm nghiệm nước ta mới chỉ kiểm tra được khoảng 500 hoạt chất trên tổng số hơn 1000 hoạt chất hóa dược đang lưu hành trong thị trường Việt Nam. Vì vậy, chúng ta đang phải đối mặt với vấn nạn thuốc giả, thuốc kém chất lượng. Sử dụng thuốc giả, thuốc kém chất lượng có thể gây ra những ảnh hưởng đáng nghiêm trọng tới sức khỏe người bệnh.
Nhiều người bệnh sử dụng phải thuốc giả, thuốc kém chất lượng làm cho bệnh tình trở nên trầm trọng hơn, thậm chí là tử vong. Do đó, công tác kiểm nghiệm đánh giá chất lượng thuốc không những đảm bảo quyền lợi và an toàn cho người dùng mà còn giúp cho các nhà sản xuất, phân phối khắc phục những thiếu sót để đảm bảo chất lượng thuốc tổt nhất cho người sử dụng. 1 Để đảm bảo thuốc viên nén có chất lượng tốt đến với người sử dụng thì việc kiểm tra chỉ tiêu chất lượng viên nén là rất cần thiết. Các chỉ tiêu chất lượng chung cần kiểm nghiệm của thuốc viên nén bao gồm cảm quan, độ rã, độ hòa tan, độ đồng đều khối lượng, độ đồng đều hàm lượng, định lượng.
Ngoài ra cần kiểm tra chỉ tiêu độ cứng, độ mài mòn với viên nén bao, độ đồng đều phân tán với viên nén phân tán trong nước. Để góp phần kiểm soát chất lượng thuốc viên nén trên thị trường Việt Nam nói chung và tại Thanh Hóa nói riêng, với mong muốn xem xét khả năng kiểm nghiệm thuốc dạng viên nén của TTKN Thanh Hóa có đáp ứng TCCS của nhà sản xuất công bố hay chưa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài: “Phân tích khả năng kiểm nghiệm thuốc hóa dược dạng viên nén tại Trung tâm kiểm nghiệm Thanh Hóa năm 2020” với hai mục tiêu: 1. Phân tích khả năng kiểm nghiệm thuốc hóa dược dạng viên nén theo TCCS thông qua các chỉ tiêu kiểm nghiệm được tại TTKN Thanh Hóa năm 2020. Xác định nguyên nhân không thực hiện được các chỉ tiêu thuốc hóa dược dạng viên nén theo tiêu chuẩn cơ sở tại Trung tâm kiểm nghiệm Thanh Hóa năm 2020.
Từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa khả năng kiểm tra chất lượng thuốc viên nén của đơn vị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong những năm tiếp theo, nhằm góp phần nâng cao công tác đảm bảo chất lượng thuốc cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn tỉnh. Một số khái niệm liên quan. - Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể, bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế trừ thực phẩm chức năng [27]. - Thuốc hóa dược là thuốc có chứa dược chất đã được xác định thành phần, công thức, độ tinh khiết và đạt tiêu chuẩn làm thuốc bao gồm cả thuốc tiêm được chiết xuất từ dược liệu, thuốc có kết hợp dược chất với các dược liệu đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả [8], [27].
- Thuốc thiết yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của đa số Nhân dân thuộc Danh Mục thuốc thiết yếu do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [9], [27]. - Thuốc viên nén là dạng thuốc rắn, mỗi viên là một đơn vị phân liều, dùng để uống, nhai, ngậm, đặt hoặc hòa với nước để uống, để súc miệng, để rửa…. Viên nén chứa một hoặc nhiều dược chất, có thể thêm các tá dược độn, tá dược rã, tá dược dính, tá dược trơn, tá dược bao, tá dược màu… được nén thành khối hình trụ dẹt; thuôn (caplet) hoặc các hình dạng khác. Viên có thể được bao [6].
- Kiểm nghiệm thuốc là việc lấy mẫu thuốc, xem xét tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến hành các thử nghiệm tương ứng và cần thiết nhằm xác định nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm có đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng không để quyết định việc chấp nhận hay loại bỏ thuốc đó [2],[7]. - Tiêu chuẩn chất lượng thuốc bao gồm các quy định về chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp kiểm nghiệm, bao gói, ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản và các yêu cầu khác có liên quan đến chất lượng thuốc [5], [7]. - Tiêu chuẩn cơ sở do cơ sở sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc xây dựng để áp dụng trong phạm vi hoạt động của cơ sở mình nhưng không được thấp hơn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng được quy định tại Dược điển Việt Nam. Trường hợp Dược điển Việt Nam chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao bì tiếp xúc 3 trực tiếp với thuốc tương ứng, cơ sở xây dựng tiêu chuẩn trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học hoặc theo quy định của Dược điển nước ngoài và được Bộ Y tế phê duyệt [5], [7].
- Tiêu chuẩn quốc gia về thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc do Bộ Y tế xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và công bố theo quy định của Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật [5], [7]. - Danh mục hoạt chất ưu tiên kiểm nghiệm là danh mục hoạt chất ưu tiên lấy mẫu để kiểm tra chất lượng do Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương ban hành [32], [33]. - Viên nén không bao gồm các loại viên điều chế bằng cách nén các hạt nhỏ của một dược chất hoặc nhiều dược chất thành viên nén một lớp hoặc viên nén nhiều lớp. Các tá dược cho thêm vào viên không được làm thay đổi hoặc hạn chế việc giải phóng dược chất trong dịch tiêu hóa [3], [6].
- Viên sủi bọt là viên nén không bao, thường chứa tá dược sủi bọt gồm các acid hữu cơ và muối carbonat hoặc hydrocarbonat, phản ứng khi có nước giải phóng khí carbon dioxyd. Viên được hòa tan hoặc phân tán trong nước trước khi dùng [3], [6]. - Viên bao là viên nén được bao bằng một hay nhiều lớp của hỗn hợp các chất bao khác nhau như các chất nhựa tự nhiên hoặc tổng hợp, gôm, gelatin, chất bao không có hoạt tính và không tan, đường, chất hóa dẻo, chống dinh, chất màu…. Tá dược bao thường được điều chế dưới dạng dung dịch hay hỗn dịch trong dung môi hay dẫn chất thích hợp.
Sau khi bao, dung môi phải được loại bỏ khỏi viên. Khi viên nén có lớp bao là màng polymer rất mỏng thì gọi là viên nén bao phim [3], [6]. - Viên ngậm thường là viên nén không bao được điều chế để dược chất giải phóng tại khoang miệng gây tác dụng tại chỗ hay hấp thu qua niêm mạc dưới lưỡi [3], [6]. - Viên nén tan trong nước là viên nén không bao hoặc viên nén bao phim, được hòa tan trong nước trước khi dùng.
Dung dịch sau khi hòa tan phải trong suốt hoặc hơi đục nhẹ [3], [6]. 4 - Viên nén phân tán trong nước là viên nén không bao hoặc viên nén bao phim, được phân tán đồng đều trong nước tạo thành hỗn dịch đồng nhất trước khi dùng [3], [6]. - Viên nén phân tán trong miệng là viên nén không bao, khi đặt vào miệng phải phân tán nhanh trong nước bọt trước khi nuốt [3], [6]. - Viên nén giải phóng biến đổi là viên nén không bao hay bao được bào chế với các tá dược đặc biệt hoặc bằng phương pháp đặc biệt hoặc bằng cả hai cách, để thay đổi tốc độ, vị trí hoặc thời gian giải phóng dược chất.
Viên nén giải phóng biến đổi bao gồm viên giải phóng kéo dài, viên giải phóng muộn và viên giải phóng theo nhịp [3], [6]. - Viên nén tan trong ruột là viên nén giải phóng muộn, kháng dịch dạ dày và giải phóng dược chất trong dịch ruột. Viên thường được bào chế từ cốm hoặc hạt được bao lớp bao kháng dịch dạ dày hoặc viên được bao lớp bao kháng dịch dạ dày [3], [6]. Phân loại thuốc viên nén: Có rất nhiều cách phân loại viên nén như: - Phân loại theo phương pháp sản xuất viên nén được chia làm ba loại chính là viên dập thẳng, viên nén tạo hạt ướt và và viên tạo hạt khô.
- Theo hình thức bên ngoài, viên nén được phân theo hình dạng (hình tròn, hình tim, hình trứng, hình thuôn…), kích thước hoặc các dạng bao (bao đường, bao film), cách phân loại này có thể giúp nhận biết, bảo quản, phân biệt các biệt dược cùng hoạt chất, cùng tác dụng. - Phân loại theo cách sử dụng, nó bao gồm viên áp má, viên đặt dưới lưỡi, viên ngậm, viên nhai, viên pha hỗn dịch, viên cấy…cách chia này giúp bệnh nhân hiểu nhanh được phải dùng thuốc như thế nào. - Một số viên nén đặc biệt kéo dài tác dụng hoặc tránh phá hủy thuốc như viên giải phóng chậm, giải phóng kéo dài, viên trì hoãn giải phóng, viên bao tan trong ruột, viên bao có kiểm soát giải phóng… Theo các phân loại này, người ta chia thành 3 loại chính: - Viên phóng thích hoạt chất tức thời (viên quy ước) gồm các viên uống thông thường, tan trong dạ dày, viên ngậm, đặt dưới lưỡi, nhai, viên sủi,… các viên 5 này giải phóng nhanh và hoàn toàn sau khi uống hoặc được hòa tan rồi uống, vì thế thời gian tác dụng thường ngắn (4-8 giờ).