Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ" được nghiên cứu sinh Đỗ Huyền Trang thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2012) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Bích Chi và PGS.TS Nguyễn Thị Lời. Luận án thuộc chuyên ngành Kế toán, kiểm toán và phân tích (Mã số: 62.01).
Trong giai đoạn 2000 - 2010, ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng với tốc độ bình quân trên 30%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 219 triệu USD (năm 2000) lên 3,43 tỷ USD (năm 2010), vươn lên vị trí thứ 5 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước, đứng sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản. Khu vực Nam Trung bộ là một trong những trung tâm chế biến gỗ phát triển nhờ hệ thống cảng biển, hạ tầng giao thông (Quốc lộ 1A, Quốc lộ 19, đường sắt Bắc - Nam) và vai trò cửa ngõ ra Biển Đông của Tây Nguyên cùng một số quốc gia láng giềng. Tính đến năm 2008, khu vực có 221 cơ sở chế biến gỗ với kim ngạch 154,2 triệu USD, trong đó khoảng 80% là cơ sở sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO đặt ra nhiều áp lực về năng lực cạnh tranh, nguồn nguyên liệu cung ứng và hiệu quả quản trị.
Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là: hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ chủ yếu mới xuất hiện ở một số đơn vị đã cổ phần hóa; nội dung phân tích còn sơ sài, nặng về so sánh số liệu kỳ trước; chưa có quy trình tổ chức độc lập; nguồn thông tin chưa được phân loại theo cách ứng xử chi phí; và chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu phân tích chuyên biệt phù hợp với đặc thù công nghệ, chuỗi cung ứng của ngành chế biến gỗ xuất khẩu.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quy trình, phương pháp cùng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh thích ứng với các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu tại Nam Trung bộ. Văn bản xác định 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Lý luận về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu nói riêng cần được hiểu như thế nào?
- Thực trạng hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ hiện nay như thế nào?
- Những điểm cần hoàn thiện trong hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ (về tổ chức phân tích, nguồn thông tin phục vụ phân tích, phương pháp phân tích, nội dung và hệ thống chỉ tiêu phân tích) là gì?
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung, doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu nói riêng, được cụ thể hóa qua các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ. Phạm vi không gian giới hạn tại khu vực Nam Trung bộ (tập trung khảo sát ở Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng và dữ liệu là giai đoạn 2008 - 2010.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh theo hai thời kỳ phát triển kinh tế của Việt Nam:
Trong thời kỳ kinh tế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung, các nghiên cứu tiêu biểu gồm: công trình của Ngô Đình Giao (1984) về hiệu quả kinh tế trong xí nghiệp công nghiệp xã hội chủ nghĩa; nhóm tác giả Nguyễn Sĩ Thịnh, Lê Sĩ Thiệp, Nguyễn Kế Tuấn (1985) về hiệu quả kinh tế trong xí nghiệp công nghiệp; và công trình của Trương Đình Hẹ (1988) về hiệu quả lao động trong xí nghiệp thương nghiệp. Các công trình này lấy mức độ hoàn thành kế hoạch pháp lệnh do Nhà nước giao làm tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả, chưa đề cập đến lợi nhuận và giá trị gia tăng trong điều kiện thị trường.
Trong cơ chế thị trường, luận án tổng kết 3 hướng nghiên cứu chính:
- Hướng thứ nhất: Phân tích hiệu quả kinh doanh trong khuôn khổ phân tích tài chính doanh nghiệp. Thể hiện qua các tài liệu chuyên khảo của Nguyễn Tấn Bình (2004), Nguyễn Văn Công (2005), Josette Peyrard (2005); cùng các luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng Cơ (1999) về doanh nghiệp cổ phần phi tài chính, Phạm Đình Phùng (2000) về phương pháp phân tích hệ thống và mô hình hóa, Nguyễn Ngọc Quang (2002) về doanh nghiệp xây dựng. Các công trình này tiếp cận hiệu quả kinh doanh như một cấu phần của phân tích tài chính với hệ thống chỉ tiêu áp dụng chung.
- Hướng thứ hai: Đánh giá một phần hoặc toàn bộ hiệu quả kinh doanh của một ngành hoặc loại hình doanh nghiệp cụ thể. Nhóm nghiên cứu từng phần gồm Trương Đình Hẹ (1988), Nguyễn Thị Minh Tâm (1999) về hiệu quả sử dụng vốn ngành dệt. Nhóm nghiên cứu toàn diện gồm Phùng Thị Thanh Thủy (1991) về xí nghiệp thương nghiệp, Phạm Thị Thu Phương (1999) về ngành may mặc. Các đề tài này sử dụng chỉ tiêu chung để đánh giá thực trạng và kiến nghị giải pháp quản trị, chưa tập trung thiết kế quy trình phân tích chuyên ngành.
- Hướng thứ ba: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu, quy trình và phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh cho từng ngành chuyên biệt. Tiêu biểu là luận án của Phạm Thị Gái (1999) trong ngành khai thác than, Huỳnh Đức Lộng (1999) về doanh nghiệp Nhà nước, và Nguyễn Thị Mai Hương (2008) về doanh nghiệp khai thác sa khoáng Titan.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là: trước thời điểm nghiên cứu (năm 2012), tại Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện về quy trình tổ chức, phương pháp kỹ thuật và hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh chuyên biệt cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu nói chung và khu vực Nam Trung bộ nói riêng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận án tổng hợp 5 trường phái quan điểm về hiệu quả kinh doanh:
- Quan điểm đồng nhất hiệu quả với kết quả đầu tư (Adam Smith, Ogiephric - thế kỷ XVIII), xem hiệu quả là doanh thu hoặc tăng trưởng thu nhập quốc dân.
- Quan điểm sử dụng hữu hiệu các nguồn lực (Paul Samuelson và William D’Nordhau - thập niên 1980), đo lường mức độ thỏa mãn nhu cầu từ nguồn lực sẵn có.
- Quan điểm so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra và chi phí phát sinh (Ngô Đình Giao, Lưu Bích Hồ, Trần Văn Thao, Gujarati Damodar).
- Quan điểm gắn kết hiệu quả kinh tế doanh nghiệp với hiệu quả xã hội (K.Rusanop; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng).
- Quan điểm đánh giá hiệu quả kinh doanh qua hiệu quả của hoạt động quản lý (Ngô Đình Giao).
Từ sự tổng hợp đó, tác giả đưa ra khái niệm: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hệ thống chỉ tiêu phân tích được thiết lập dựa trên nguyên tắc công thức dạng thương số, phân tầng thành 3 nhóm:
- Nhóm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng chi phí/yếu tố đầu vào: phản ánh cường độ hoạt động, gồm sức sản xuất (Đầu ra kết quả sản xuất / Chi phí hoặc yếu tố đầu vào) và suất hao phí nghịch đảo.
- Nhóm chỉ tiêu tốc độ luân chuyển chi phí/yếu tố đầu vào: phản ánh khả năng luân chuyển qua số vòng quay (Doanh thu thuần hoặc Giá vốn / Giá trị bình quân đối tượng) và thời gian một vòng quay.
- Nhóm chỉ tiêu sức sinh lời của chi phí/yếu tố đầu vào: phản ánh khả năng sinh lợi (Đầu ra phản ánh lợi nhuận / Chi phí, yếu tố đầu vào hoặc Đầu ra kết quả sản xuất).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng Mác - Lênin và áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp:
- Nghiên cứu tại bàn: thu thập dữ liệu thứ cấp từ Thư viện Quốc gia Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương các địa phương, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định.
- Phỏng vấn sâu và khảo sát thực địa: chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm với quy mô 30 phiếu phỏng vấn cán bộ lãnh đạo và chuyên viên phân tích tại 3 địa phương (23 tại Bình Định, 4 tại Quảng Ngãi, 3 tại Quảng Nam; tỉnh Phú Yên không thực hiện được phỏng vấn do doanh nghiệp hoạt động bấp bênh và không có sự hợp tác). Dữ liệu minh họa chi tiết được thu thập tại 4 doanh nghiệp đại diện cho các mức quy mô vốn điều lệ: Công ty Cổ phần Công nghệ gỗ Đại Thành (Bình Định), Xí nghiệp Chế biến lâm sản An Nhơn (Bình Định), Công ty Cổ phần Gia Đại Toàn (Quảng Nam), và Công ty Cổ phần Gỗ xuất khẩu Tân Thành Dung Quất (Quảng Ngãi).
| Địa phương |
Số doanh nghiệp hoạt động |
Số mẫu phỏng vấn sâu |
Doanh nghiệp khảo sát số liệu minh họa |
| Bình Định |
~140 (chiếm ~80% vùng) |
23 |
- Công ty CP Công nghệ gỗ Đại Thành - Xí nghiệp Chế biến lâm sản An Nhơn |
| Quảng Ngãi |
Nhỏ |
4 |
- Công ty CP Gỗ xuất khẩu Tân Thành Dung Quất |
| Quảng Nam |
Nhỏ |
3 |
- Công ty CP Gia Đại Toàn |
| Phú Yên |
2 |
0 |
Không khảo sát được do thiếu hợp tác |
| Tổng cộng |
176 (221 cơ sở tính cả hộ/xưởng) |
30 |
4 doanh nghiệp điển hình |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh, tiêu chuẩn đánh giá và hệ thống chỉ tiêu phân tích. Tác giả phân loại hiệu quả theo các tiêu thức: mục tiêu (kinh tế, xã hội), phạm vi tính toán (nền sản xuất xã hội, cá biệt), tính chất tác động (trực tiếp, gián tiếp) và phương thức xác định (tuyệt đối, tương đối).
Luận án chỉ rõ tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh phải là mức độ phù hợp giữa kết quả kinh doanh và kết quả xã hội đạt được trên cơ sở tiết kiệm hao phí lao động xã hội. Đối với ngành chế biến gỗ xuất khẩu, hiệu quả kinh tế (như sức sinh lời của vốn chủ sở hữu đạt mức bình quân ngành giả định 8%) phải gắn liền với trách nhiệm xã hội và môi trường (nguyên tắc khai thác đi đôi với trồng lại rừng có giãn cách tối thiểu 7 năm, thực hiện các chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC và chuỗi hành trình sản phẩm COC).
Nội dung chương phân tích các đặc điểm kỹ thuật - kinh tế của ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu ảnh hưởng đến phân tích hiệu quả kinh doanh: tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu gỗ chiếm cơ cấu lớn trong giá thành; nguồn cung phụ thuộc vào nhập khẩu hoặc rừng trồng; sản phẩm chịu sự kiểm định nghiêm ngặt của thị trường nhập khẩu về nguồn gốc gỗ hợp pháp và tiêu chuẩn an toàn; hoạt động kinh doanh chịu tác động của rủi ro tỷ giá và biến động cước vận tải biển. Chương 1 cũng phân tích kinh nghiệm đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Singapore thông qua báo cáo giá trị gia tăng và hệ thống chỉ tiêu hiệu quả ngành may mặc để rút ra bài học áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ
Chương 2 mô tả bức tranh tổng quan về ngành chế biến gỗ Nam Trung bộ giai đoạn 2008 - 2010. Ngành có 176 doanh nghiệp (trên tổng số 221 cơ sở), tập trung chủ yếu tại tỉnh Bình Định, sản phẩm chủ lực là đồ gỗ nội thất và ngoại thất xuất khẩu sang các thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản.
Khảo sát thực tế tại 4 doanh nghiệp (Đại Thành, Tân Thành Dung Quất, Gia Đại Toàn, An Nhơn) và 30 mẫu phỏng vấn cho thấy thực trạng hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh bộc lộ các hạn chế:
- Về tổ chức phân tích: Hoạt động phân tích chưa được tổ chức thành bộ phận độc lập mà lồng ghép trong phòng kế toán hoặc phòng kế hoạch kinh doanh; việc phân tích không diễn ra định kỳ, thường chỉ làm khi kết thúc năm tài chính phục vụ đại hội cổ đông.
- Về phương pháp phân tích: Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh số học giản đơn giữa số thực hiện với số kế hoạch hoặc giữa kỳ này với kỳ trước; chưa áp dụng phương pháp phân tích nhân tố DuPont, chưa sử dụng mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích độ nhạy.
- Về nguồn thông tin: Nguồn dữ liệu phục vụ phân tích phụ thuộc vào hệ thống báo cáo tài chính kế toán tổng hợp; chưa thiết lập hệ thống kế toán quản trị để phân loại chi phí thành biến phí và định phí; chưa thu thập đầy đủ thông tin phi tài chính và thông tin thị trường.
- Về nội dung và hệ thống chỉ tiêu: Hệ thống chỉ tiêu còn đơn điệu, tập trung vào các chỉ tiêu quy mô và kết quả (doanh thu, lợi nhuận, sản lượng) thay vì các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sử dụng nguồn lực; thiếu các chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, hiệu suất sử dụng chi phí nguyên vật liệu và sức sinh lời trên chi phí hoạt động.
| Chỉ tiêu phân tích thực tế tại doanh nghiệp khảo sát |
Tình trạng áp dụng giai đoạn 2008 - 2010 |
Nhận xét của tác giả luận án |
| Doanh thu thuần, Lợi nhuận sau thuế |
100% doanh nghiệp khảo sát sử dụng |
Phản ánh kết quả quy mô, chưa phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực |
| Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) |
Áp dụng phổ biến |
Chỉ phản ánh biên lợi nhuận tiêu thụ, thiếu mối liên hệ với tài sản |
| Phân tích DuPont (ROA, ROE) |
Chưa doanh nghiệp nào thực hiện |
Thiếu công cụ bóc tách ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và vòng quay tài sản |
| Phân loại chi phí thành Biến phí - Định phí |
Chưa thực hiện trong phân tích |
Không xác định được điểm hòa vốn và số dư đảm phí cho từng dòng sản phẩm |
| Đánh giá trách nhiệm môi trường (FSC/COC) |
Chỉ ghi nhận như điều kiện xuất khẩu |
Chưa lượng hóa thành chỉ tiêu trong hệ thống đánh giá hiệu quả kinh doanh |
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ
Trên cơ sở định hướng phát triển ngành chế biến gỗ Nam Trung bộ giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện toàn diện:
- Hoàn thiện tổ chức phân tích: Thiết lập quy trình phân tích 4 bước chuẩn hóa (Sơ đồ 3.1) gồm lập kế hoạch phân tích, thu thập xử lý dữ liệu, thực hiện phân tích và lập báo cáo tư vấn ra quyết định; phân định rõ trách nhiệm giữa bộ phận kế toán và chuyên viên phân tích kinh tế.
- Hoàn thiện phương pháp phân tích:
- Ứng dụng kỹ thuật chia tách chi phí hỗn hợp thành biến phí và định phí theo phương pháp cực đại - cực tiểu (min - max) (minh họa tại Công ty Gỗ xuất khẩu Tân Thành Dung Quất qua các Bảng 3.1 đến 3.4).
- Lập báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí (Bảng 3.5) và báo cáo bộ phận chi tiết theo từng nhóm sản phẩm nội thất, ngoại thất (Bảng 3.6).
- Ứng dụng phương trình phân tích DuPont để bóc tách các nhân tố ảnh hưởng đến ROA và ROE (minh họa tại Công ty CP Công nghệ gỗ Đại Thành qua Bảng 3.8 và 3.9).
- Hoàn thiện nguồn thông tin: Xây dựng hệ thống thu thập thông tin quản trị nội bộ; tổ chức thu thập thông tin định mức kinh tế kỹ thuật tiêu hao nguyên vật liệu gỗ; hoàn thiện ghi chép kế toán phục vụ phân tích biến phí, định phí.
- Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích: Thiết lập bộ chỉ tiêu chuyên ngành theo 3 nhóm (hiệu suất sử dụng chi phí và yếu tố đầu vào, tốc độ luân chuyển chi phí và vốn, sức sinh lời của chi phí và vốn) gắn với đặc thù sản xuất gỗ xuất khẩu.
- Nhóm giải pháp hỗ trợ nâng cao hiệu quả kinh doanh: Đẩy mạnh đầu tư trồng rừng nguyên liệu tập trung; chuyển dịch cơ cấu sang sản xuất hàng nội thất có giá trị gia tăng cao; sử dụng nguyên liệu gắn liền với bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn FSC/COC; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chế biến gỗ.
- Điều kiện thực thi: Kiến nghị với Nhà nước về chính sách quy hoạch vùng nguyên liệu rừng trồng, hỗ trợ vốn vay ưu đãi; kiến nghị Hiệp hội Gỗ và Lâm sản cung cấp thông tin thị trường xuất khẩu; và yêu cầu các doanh nghiệp nâng cao nhận thức quản trị tài chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Văn bản luận án nêu rõ các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất; làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và hiệu quả xã hội trong bối cảnh phát triển bền vững; xây dựng các nguyên tắc và mô hình xác định hệ thống chỉ tiêu phân tích theo dạng thương số kết hợp giữa định tính và định lượng.
- Về thực tiễn: Phản ánh thực trạng công tác phân tích hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ giai đoạn 2008 - 2010 thông qua số liệu khảo sát thực địa; chỉ rõ các điểm nghẽn trong tổ chức, phương pháp và nguồn dữ liệu; thiết kế quy trình tổ chức phân tích chuyên biệt và đề xuất bộ chỉ tiêu hoàn chỉnh (gồm hiệu suất, luân chuyển và sinh lời); ứng dụng thực nghiệm phương pháp phân tách chi phí hỗn hợp, lập báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí và phân tích DuPont trên dữ liệu thực tế của các doanh nghiệp khảo sát.
- Về giải pháp chính sách: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc hoàn thiện công cụ phân tích quản trị nội bộ với các giải pháp chiến lược ngành (phát triển rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC, nâng tỷ trọng hàng nội thất, nâng cao chất lượng lao động chế biến gỗ).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm giới hạn trong giai đoạn 2008 - 2010. Địa bàn khảo sát thực tế tập trung tại 3 tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam; chưa khảo sát được doanh nghiệp tại Phú Yên do tình hình sản xuất kinh doanh tại địa phương này không ổn định và thiếu sự hợp tác cung cấp số liệu. Quy mô mẫu phỏng vấn sâu dừng lại ở 30 đơn vị.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm sang các trung tâm chế biến gỗ xuất khẩu lớn khác của Việt Nam (vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên); cập nhật chuỗi số liệu tài chính và thị trường sau năm 2010; nghiên cứu sâu hơn về việc ứng dụng các phần mềm chuyên dụng và mô hình toán kinh tế trong phân tích dự báo hiệu quả kinh doanh ngành gỗ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: thuộc các chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Phân tích hoạt động kinh doanh và Quản trị kinh doanh; có thể sử dụng khung lý luận về hiệu quả kinh tế - xã hội và phương pháp luận thiết lập hệ thống chỉ tiêu phân tích kinh tế chuyên ngành.
- Lãnh đạo doanh nghiệp, giám đốc tài chính, kế toán trưởng: tại các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu; có thể trực tiếp ứng dụng quy trình tổ chức phân tích 4 bước, biểu mẫu báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí (Bảng 3.5), báo cáo bộ phận (Bảng 3.6), kỹ thuật tách chi phí hỗn hợp (Bảng 3.3 - 3.4) và phương trình DuPont (Bảng 3.8 - 3.9) vào quản trị thực tế.
- Cơ quan quản lý Nhà nước, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hiệp hội Gỗ Bình Định (FPA Bình Định): tham khảo các đề xuất về quy hoạch vùng nguyên liệu rừng trồng, cơ chế tín dụng và kiểm soát chứng chỉ FSC/COC để xây dựng chính sách phát triển ngành gỗ bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực tế tại những doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu cụ thể nào ở Nam Trung bộ?
Luận án thu thập số liệu phân tích minh họa chi tiết tại 4 doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Công nghệ gỗ Đại Thành (tỉnh Bình Định), Xí nghiệp Chế biến lâm sản An Nhơn (tỉnh Bình Định), Công ty Cổ phần Gia Đại Toàn (tỉnh Quảng Nam), và Công ty Cổ phần Gỗ xuất khẩu Tân Thành Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi).
2. Quy mô mẫu phỏng vấn sâu của luận án được phân bổ tại các địa phương như thế nào?
Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm với cỡ mẫu 30 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và chuyên viên phân tích: 23 mẫu tại Bình Định, 4 mẫu tại Quảng Ngãi, 3 mẫu tại Quảng Nam. Tỉnh Phú Yên không thực hiện được phỏng vấn do 2 doanh nghiệp tại đây hoạt động bấp bênh và không có sự hợp tác.
3. Tác giả luận án đề xuất hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh gồm những nhóm chỉ tiêu cơ bản nào?
Hệ thống chỉ tiêu hoàn thiện được xây dựng thành 3 nhóm: (1) Nhóm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng chi phí và các yếu tố đầu vào (sức sản xuất, suất hao phí); (2) Nhóm chỉ tiêu tốc độ luân chuyển chi phí và các yếu tố đầu vào (số vòng quay, thời gian một vòng quay của tài sản ngắn hạn, hàng tồn kho, khoản phải thu); (3) Nhóm chỉ tiêu sức sinh lời của chi phí và các yếu tố đầu vào (ROS, ROA, ROE, sức sinh lời của chi phí hoạt động).
4. Kỹ thuật quản trị chi phí nào được tác giả đề xuất ứng dụng để phục vụ phân tích hiệu quả kinh doanh trong Chương 3?
Tác giả đề xuất phân loại chi phí theo cách ứng xử thành biến phí và định phí, sử dụng phương pháp cực đại - cực tiểu (min - max) để chia tách chi phí hỗn hợp, từ đó lập báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí và báo cáo bộ phận cho từng dòng sản phẩm đồ gỗ nội thất, ngoại thất.
5. Chứng chỉ quốc tế nào về lâm sản được luận án nhấn mạnh trong việc gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm xã hội?
Luận án nhấn mạnh chứng chỉ FSC (Forest Stewardship Council - Chứng chỉ phát triển rừng bền vững) và COC (Chain of Custody - Chứng chỉ hệ thống chuỗi hành trình sản phẩm) là các tiêu chuẩn bắt buộc của thị trường quốc tế gắn liền với trách nhiệm bảo vệ môi trường và sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Huyền Trang đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh và hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất, gắn kết hiệu quả kinh tế với trách nhiệm xã hội. Trên cơ sở khảo sát thực trạng ngành chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung bộ giai đoạn 2008 - 2010, tác giả đã chỉ ra những tồn tại trong công tác tổ chức, dữ liệu và kỹ thuật phân tích tại các doanh nghiệp. Công trình đã xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gồm chuẩn hóa quy trình phân tích, ứng dụng phương pháp DuPont, phân loại chi phí theo số dư đảm phí và hoàn thiện bộ chỉ tiêu phân tích chuyên ngành, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quản trị doanh nghiệp và hoạch định chính sách phát triển ngành gỗ xuất khẩu.