chương 1. Cuộc đời Nguyễn Quang Bích, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, ông sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (7-5-1832). Sinh ra và lớn lên ở làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định nay thuộc tỉnh Thái Bình nên Nguyễn Quang Bích rất am hiểu về con người và mảnh đất nơi đây. Trình Phố là ngôi làng đồng ruộng nhiều, cư dân đông đúc do gần vùng biển úng lụt mất mùa liên miên nên cuộc sống của người dân nơi đây đói nghèo thiếu thốn trăm bề.
Tuy nhiên đây cũng là một trong những miền quê tiêu biểu của Việt Nam với truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất đấu tranh bảo vệ dân tộc. Trong làn sóng lịch sử dân tôc sôi động khoảng cuối thế kỉ XIX trở đi, tên tuổi của những người con ưu tú của quê hương Trình Phố nổi bật lên như Ngô Đức Trạch, Bùi Viện, Ngô Quang Đoan,…nhưng tiêu biểu nhất là tên tuổi của Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích. Suốt thời gian làm quan, ông được nhân dân các địa phương rất yêu mến thường gọi ông là “Hoạt phật” (Phật sống). Đó là cả một tấm lòng ái mộ của nhân dân đối với một người suốt đời chăm lo đến đời sống của quần chúng.
Những năm tháng làm quan trong sạch và ân đức đó đã báo trước cho những hành động cao đẹp của ông về sau khi đất nước bị quân thù xâm lược. Với làng Trình Phố, Nguyễn Quang Bích đã thực sự gắn bó và để lại rất nhiều ân nghĩa. Đức tài, cách đối nhân xử thế của dòng họ ông nói chung và của bản thân ông nói riêng đã ngấm sâu vào trong gốc rễ làng Trình và ăn sâu vào trong hồn người nơi đây. Trước cảnh nhân dân mất mùa, đói khổ Nguyễn Quang Bích đã lo lắng trăn trở mong muốn thực hiên được ước nguyện giúp dân ấm no hạnh phúc.
Trong khoảng thời gian về chịu tang cha ông đã thực hiện được ước nguyện của mình, xây Văn Chỉ cho làng, mở trường dạy học, 11 xẻ sông, đắp cống,… mở ra một cuộc sống mới cho người dân làng Trình Phố. Cũng chính vì ông có nhiều ân nghĩa với mảnh đất và con người nơi đây nên đã khiến cho nhân dân làng Trình đủ sức mạnh theo ông lên tận Hưng Hóa để đánh giết giặc và khi ông mất làng Trình Phố đã cùng gia đình ông gánh chịu những tổn thất lớn lao trong lòng cũng như sự trả thù dã man của chính quyền thực dân Pháp. Có một điều chắc chắn, Nguyễn Quang Bích xứng đáng là niềm tự hào của nhân dân làng Trình Phố, xứng đáng với lời ngợi ca đẹp đẽ mà quê hương đã dành tặng ông: “Chỉ Trụ thiên thu tiêu Việt quốc, Danh môn bách thế biểu Trình Giang.” Nghĩa là: “Cột trụ ngàn năm nên đất Việt, Danh thơm muôn thuở rạng làng Trình.” Có thể nói quê hương là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành nên nhân cách Nguyễn quang Bích nhưng yếu tố tiên quyết để hình thành nên nhân cách đáng kính trọng đó phải kể đến dòng dõi gia đình. Tổ tiên Nguyễn Quang Bích vốn là dòng họ Ngô (Bởi vậy có nhiều học giả gọi ông là Ngô Quang Bích).
Họ Ngô từ thế kỉ XV xuất xứ từ Đồng Phang đã lan rộng ra địa bàn toàn quốc và trở thành một dòng họ lớn sản sinh ra nhiều văn thân võ tướng có tiếng. Tổ tiên ông có Ngô Kinh, Ngô Từ cũng có công lớn với Lê Khoáng, Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thân phụ Nguyễn Quang Bích là Ngô Quang Lưu vốn có sức khỏe, làm ăn chăm chỉ, tiết kiệm nên sớm trở thành một trung nông khá giả của làng Trình Phố xưa. Ông luôn chỉ bảo cho con cháu những điều hay lẽ phải, là một 12 tấm gương về đức tính lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, ăn ở nhân đức tình nghĩa với láng giềng,… cho con cái về sau.
Thân mẫu Nguyễn Quang Bích là một người phụ nữ tần tảo hết lòng với chồng con. Đức tính tốt từ thân phụ và thân mẫu đã trở thành những định hướng lớn trong tư tưởng của Nguyễn Quang Bích và có ảnh hưởng lớn đến hành động của ông sau này. Không chỉ thế, góp phần quan trọng vào quá trình hình thành nhân cách để tạo nên sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích còn phải kể đến kết quả của sự dạy dỗ bởi các thầy dạy học lúc bấy giờ. Người thầy khai tâm cho Nguyễn Quang Bích là cụ tú tài Nguyễn Ôn Hòa, một nho sĩ có tiếng người làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Nhờ sự ân cần chỉ bảo của người thầy mẫu mực này nên Nguyễn Quang Bích đã sớm phát huy được tư chất thông minh, hiếu học và tinh thần lập chí từ nhỏ. Khi học lên cao ông lại tìm được một người thầy học có tiếng tăm về đức độ, văn tài tiến sĩ Đốc học Doãn Khuê, người xã Song Lãng, huyện Vũ Thư. Người thầy cao quý không chỉ truyền dạy cho Nguyễn Quang Bích tinh thần học tập, nghiên cứu nghiêm túc, coi trong việc tiếp thu những tinh hoa của kho tàng văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Đông mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới ông về tinh thần yêu nước, về đạo đức trong sáng mang tính truyền thống của dân tộc. Trong “Bài ca đối sánh thi đình” của mình, Nguyễn Quang Bích đã khẳng định: Ông đã hình thành nhân cách con người trí thức của mình trước khi bước vào con đường tấn thân.
Sau này, sau những năm tháng kháng chiến ở Tây Bắc với tư cách là thủ lĩnh của nghĩa quân, Nguyễn quang Bích đã hình thành nên nhân cách con người trí tuệ của mình. Trong 13 ông có sự nhất quán giữa việc học và hành, giữa tư tưởng và hành động, đạt đến sự viên mãn trong các mối quan hệ ứng xử. Như vậy, nhân cách của Nguyễn Quang Bích được hình thành trong cả một quá trình dài dưới sự tác động của nhiều yếu tố. Với những điều kiện tiền đề thuận lợi kết hợp với sự cố gắng nỗ lực của bản thân tưởng rằng đường công danh sẽ rạng rỡ với ông thế nhưng cũng giống như Trần Tế Xương Nguyễn Quang Bích thi đỗ rất muộn.
Năm Mậu Ngọ (1858) lúc đã 27 tuổi ông mới đậu tú tài. Tiếp sau đó, năm Tân Dậu (1861) ông đỗ cử nhân và được bổ làm giáo thụ phủ Trường Khánh (Ninh Bình). Được một năm thì ông cáo quan về quê để tang cha và dạy học.Con đường quan lộ của Nguyễn Quang Bích chỉ thực sự rạng rỡ vào năm 1869 khi ông đỗ nhị giáp tiến sĩ lúc 38 tuổi và được bổ làm tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, ông lần lượt giữ các chức án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám tại kinh đô Huế, án sát Bình Định.
Trong thời gian đó triều đình mở doanh điền ở Hưng Hóa, ông lại được cử làm chánh sứ sơn phòng rồi kiêm luôn chức tuần phủ Hưng Hóa. Mảnh đất Hưng Hóa cũng là nơi Nguyễn Quang Bích bắt đầu tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc. Sau khi buộc triều đình Huế kí hàng ước vào ngày 25/8/1883 xác định quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam thì đến tháng 3/1884 thì hầu hết Bắc kì đã lọt vào tay giặc Pháp. Một số căn cứ quan yếu đã mất, chỉ còn Hưng Hóa và thực dân Pháp đang chuẩn bị tấn công để mở rộng phạm vi xâm lược ra cả nước.
Tuần phủ kiêm trấn thủ Hưng Hóa lúc đó là Nguyễn Quang Bích lúc đó đã phải chỉ đạo trực tiếp việc giữ thành. Sau khi thành Hưng Hóa thất thủ ông đã thu thập quân binh dời về Cẩm Khê (Phú thọ) và định cố thủ lâu dài ở đây lặp căn cứ chống Pháp. Nghĩa quân đã tự củng cố lục lượng cùng với nghĩa quân từ nhiều nơi khác đến đã tạo nên một sức mạnh cả về thế và lực. Quân Pháp nhiều lần đem 14 binh đến đánh hưng đều thất bại trước sự đồng tâm đoàn kết quyết chiến của nghĩa quân nơi đây, đặc biệt là sự lãnh đạo của nhà cầm quyên Nguyễn Quang Bích.
Ngày 13/7/1885 vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đứng dậy chống Pháp cứu nước. Tôn Thất Thuyết thừa mệnh vua xuống dụ khai phục nguyên hàm và thăng chức cho văn thần võ tướng ngoài Bắc. Nguyễn Quang Bích được vua Hàm Nghi sai sứ ra phong Lễ bộ thượng thư sung hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần nước Thuần – Trung cho phép quan văn từ tham tần, quan võ từ đề đốc trở xuống được quyền “Liệu nghi thực dụng” đồng thời ông được ủy viện cầm quốc thư sang triều Thanh cầu viện. Nguyễn Qung Bích đã hoàn thành xuất sắc công việc được giao ông được vua Hàm Nghi ban khen và phụ chinh đại thần Tôn Thất Thuyết làm thơ kỉ niệm.
Vào năm 1886 vua Hàm Nghi lại một lần nữa cử Nguyễn Quang Bích đi Vân Nam, cùng đi với ông có Chu Lăng Thực, tự Thiết Nhai, hiệu Ngọa Hổ người tỉnh Hồ Nam Trung Quốc, người thứ hai là Nguyễn Khê Ông người làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, lĩnh chức án sát sứ tỉnh Sơn Tây sung tần tướng quân vụ. Cũng trong thời gian này từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1886, giặc Pháp hai lần liên tục tấn công căn cứ nhưng không có kết quả. Phong trào kháng Pháp ở nhiều nơi lại nổ ra mạnh mẽ. Giữa lúc này thì Nguyễn Quang Bích từ Trung Quốc về nước và cho nghĩa quân đóng ở hạt Thiên Chấn (châu Văn Chấn).
Được sự viện trợ của tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh cùng sự góp sức của nhiều nghĩa quân khác, đặc biệt là đồng bào dân tộc miền núi nên thanh thế của nghĩa quân tăng lên rất nhanh. Tất cả các cuộc đấu tranh chống phá của thực dân Pháp đều vô hiệu. Đàn áp không được thực dân Pháp dở chiêu trò dụ dỗ nhưng Nguyễn Quang Bích kiên quyết cự tuyệt thề chết không 15 hàng. Với lời lẽ ôn hòa mà đanh thép, Nguyễn Quang Bích đã thể hiện rõ quan điểm và bản lĩnh của mình trước quân thù, đó cũng chính là ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam bất chấp sức mạnh của quân xâm lược.
Đến tháng 10 năm Đinh Hợi (11/1887) do quân Pháp ập đến bất ngờ nên Nguyễn Quang Bích và hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp phải chia tay nhau lánh vào nhà đồng bào Mèo quanh vùng. Khi quân giặc rút lui ông trở về căn cứ thì Nguyễn Văn Giáp đã bị bệnh chết. Vô cùng thương tiếc người đồng chí có khí tiết hào hùng ông đã làm một bài văn tế thống thiết ca tụng công ơn của hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp.