Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Tuyết đi sâu nghiên cứu một hiện tượng tiêu biểu của dòng văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX: tác gia Nguyễn Quang Bích và tập thơ văn Ngư Phong thi văn tập.

Về bối cảnh thực tiễn, nửa cuối thế kỷ XIX đánh dấu bước ngoặt bi thảm nhưng hào hùng trong lịch sử dân tộc khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) vào ngày 31-8-1858. Trước sức tấn công của kẻ thù, triều đình nhà Nguyễn tỏ ra nhu nhược, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng và nhượng bộ quyền lợi dân tộc: Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 (nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn), Hiệp ước Giáp Tuất 1874 (nhượng toàn bộ Nam Kỳ), cùng các Hiệp ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 công nhận quyền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Xã hội Việt Nam chuyển biến thành xã hội nửa thực dân nửa phong kiến. Trong bối cảnh triều đình thoái chí, các phong trào khởi nghĩa vũ trang của nhân dân và tầng lớp sĩ phu văn thân bùng lên mạnh mẽ từ Nam chí Bắc. Nếu Nam Kỳ có Trương Định, Nguyễn Hữu Huân; Trung Kỳ có Phan Đình Phùng thì tại Bắc Kỳ, phong trào Cần Vương kháng Pháp gắn liền với vai trò chỉ huy của Nguyễn Quang Bích tại núi rừng Tây Bắc. Bên cạnh tư cách một lãnh tụ nghĩa quân, Nguyễn Quang Bích còn là một thi sĩ đã sáng tác nên Ngư Phong thi văn tập, ghi lại chân thực cuộc sống chiến đấu, thiên nhiên Tây Bắc và tâm sự yêu nước bi tráng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể theo hai nhiệm vụ đánh số như sau:

  1. Tìm hiểu để có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật trong tập thơ văn Ngư Phong thi văn tập của Nguyễn Quang Bích.
  2. Nâng cao sự hiểu biết về cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Quang Bích để từ đó thấy được vị trí và vai trò của ông trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX nói riêng và trong nền văn học nước nhà nói chung.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận khảo sát hệ thống văn bản thơ văn của tác giả Nguyễn Quang Bích, sử dụng nguồn trích dẫn ngữ liệu chủ yếu từ cuốn sách Thơ văn Nguyễn Quang Bích do Đinh Xuân Lâm giới thiệu, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1973.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn tập trung tìm hiểu các bình diện giá trị nội dung tư tưởng và các đặc sắc nghệ thuật trong phạm vi tập thơ văn Ngư Phong thi văn tập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở tiếp thu, hệ thống hóa và kế thừa các thành tựu nghiên cứu lịch sử văn học, phê bình văn học về tác gia Nguyễn Quang Bích và văn học Cần Vương giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Các tài liệu nền tảng được tác giả tổng thuật bao gồm:

  • Bộ công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, xuất bản năm 1964) của tác giả Bùi Văn Nguyên.
  • Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập IVA của nhóm tác giả nghiên cứu văn học.
  • Chuyên khảo Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX của nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc.
  • Tuyển tập Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ XIX (1858-1900).
  • Công trình biên soạn Thơ văn Nguyễn Quang Bích của nhóm tác giả Kiều Hữu Hỷ, Lã Xuân Mai, Nguyễn Xuân Bách, Nguyễn Bỉnh Khôi, do Đinh Xuân Lâm giới thiệu (xuất bản lần đầu năm 1961, tái bản năm 1973).
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học Nguyễn Quang Bích – Nhà yêu nước, nhà thơ do GS. Nguyễn Huệ Chi làm chủ biên, tập hợp các nghiên cứu của GS. Nguyễn Huệ Chi, PGS. Trần Thị Băng Thanh cùng nhiều học giả khác.
  • Các văn bản ghi nhận từ hai hội thảo khoa học lớn: Hội thảo khoa học năm 1988 nhân dịp công nhận di tích lịch sử phần mộ và từ đường Nguyễn Quang Bích tại Tiền Hải (Thái Bình) và Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông tổ chức năm 1991 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng 4 phương pháp chính của nghiên cứu văn học:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Áp dụng để thống kê số lượng văn bản, phân loại thể loại và các mảng đề tài trong tập thơ văn.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Quang Bích vào chỉnh thể phong trào kháng chiến Cần Vương và dòng văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX.
  • Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh thơ văn Nguyễn Quang Bích với các tác giả cùng thời (Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Nghị, Tống Duy Tân, Phan Đình Phùng) và tiền nhân (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương) để nhận diện nét riêng biệt.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các văn bản thơ, văn tế, câu đối cụ thể để khái quát thành các luận điểm về giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu là tập tác phẩm Ngư Phong thi văn tập bao gồm 97 bài thơ chữ Hán (phần lớn làm theo thể Đường luật), 3 bài văn tế, 4 bài câu đối, các bài liễn điếu và văn thư ngoại giao trả lời quân Pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương đầu tiên của khóa luận tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử, hành trạng cuộc đời, sự nghiệp văn chương và vị trí văn học sử của tác giả Nguyễn Quang Bích thông qua ba nội dung lớn:

Thứ nhất, hoàn cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX: Tác giả tái hiện bức tranh xã hội đầy biến động dưới tác động của cuộc xâm lược từ thực dân Pháp. Trước nguy cơ mất nước, triều đình Huế đầu hàng từng bước, xã hội phân hóa sâu sắc. Tầng lớp sĩ phu văn thân có sự phân hóa thái độ: một bộ phận cúi đầu an phận hoặc trốn tránh trong lối sống ẩn dật, nhưng bộ phận ưu tú đã đứng về phía nhân dân cầm vũ khí chống giặc. Lời hiệu triệu từ Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (ngày 13/7/1885) đã thổi bùng phong trào kháng chiến khắp ba miền. Trong phong trào đó, các trí thức Nho học không chỉ đánh giặc bằng vũ khí mà còn dùng chính ngòi bút để thể hiện khí phách kiên cường.

Thứ hai, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Quang Bích:

  • Cuộc đời: Nguyễn Quang Bích (tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong), sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (tức 7-5-1832) tại làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Tổ tiên ông là dòng họ Ngô có nguồn gốc từ Đồng Phang (thế kỷ XV), có công lớn trong khởi nghĩa Lam Sơn (Ngô Kinh, Ngô Từ). Thân phụ là cụ Ngô Quang Lưu, thân mẫu là người phụ nữ tần tảo. Ông thụ giáo với hai người thầy đức độ: Tú tài Nguyễn Ôn Hòa (làng Hành Thiện) và Tiến sĩ Đốc học Doãn Khuê (Song Lãng, Vũ Thư). Về khoa cử, ông đỗ Tú tài năm Mậu Ngọ 1858 (27 tuổi), đỗ Cử nhân năm Tân Dậu 1861, đỗ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) năm 1869 (38 tuổi). Ông từng trải qua các chức vụ: Giáo thụ phủ Trường Khánh (Ninh Bình), Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám (Huế), Án sát Bình Định, Chánh sứ sơn phòng kiêm Tuần phủ Hưng Hóa. Ông được nhân dân yêu mến xưng tụng là "Hoạt phật" vì đức độ thanh liêm.
  • Quá trình kháng chiến: Khi thành Hưng Hóa thất thủ (tháng 4-1884), ông rút quân về Cẩm Khê (Phú Thọ) lập căn cứ. Sau Chiếu Cần Vương (1885), ông được vua Hàm Nghi phong chức Lễ bộ Thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần nước Thuần – Trung. Ông hai lần nhận ủy nhiệm cầm quốc thư sang Vân Nam (Trung Quốc) cầu viện (năm 1885 và 1886). Sau khi trở về, ông cùng các tướng lĩnh Đề Kiều, Đốc Ngữ, Nguyễn Văn Giáp xây dựng căn cứ tại châu Văn Chấn (Nghĩa Lộ), lập tuyến phòng thủ hiểm trở, dựa vào sự che chở của đồng bào thiểu số và đẩy lui nhiều đợt tấn công của quân Pháp. Giặc Pháp dùng thư dụ hàng nhưng ông kiên quyết cự tuyệt. Cuối đời, ông dời cơ quan chỉ huy về núi Tôn Sơn (châu Yên Lập) và tạ thế vì bệnh nặng vào ngày 5/1/1891 (văn bản cũng ghi chú nhận định mất vào năm 1889 hoặc 1890).
  • Sự nghiệp văn chương: Trong giai đoạn lãnh đạo kháng chiến từ 1885 đến 1889 tại Tây Bắc, ông để lại Ngư Phong thi văn tập gồm 97 bài thơ chữ Hán (phần lớn theo thể Đường luật), 3 bài văn tế, 4 bài câu đối, các liễn điếu viếng đồng đội và các bức thư từ chối chiêu hàng của quân Pháp.

Thứ ba, vị trí thơ văn Nguyễn Quang Bích trong dòng văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX: Khóa luận điểm lại các mốc tiếp cận văn bản của giới nghiên cứu, khẳng định Nguyễn Quang Bích là một trong số ít văn thân kháng chiến truyền lại được hơi thở nóng hổi của thực tế chiến đấu và hiện thực miền núi rừng Tây Bắc.

Chương 2: Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Ngư Phong thi văn tập của Nguyễn Quang Bích

Chương trọng tâm của khóa luận đi sâu mổ xẻ hai bình diện nội dung và nghệ thuật của tập thơ văn:

1. Ngư Phong thi văn tập nhìn từ phương diện nội dung: Khóa luận phân tích 4 nội dung tư tưởng cốt lõi:

  • Tinh thần yêu nước, chống xâm lược: Thể hiện ý chí dứt khoát đứng về phe chủ chiến, cự tuyệt thỏa hiệp, vạch mặt những kẻ đầu hàng, xu nịnh giặc hoặc giả cách ẩn dật để trục lợi cá nhân. Ý thức cứu nước được xác lập như một trách nhiệm thiêng liêng của kẻ sĩ qua các bài thơ như Sơn hành lộ tự ủy, Ngư Phong họa thi V, Ngư Phong họa thi I (tiếp nối tinh thần tuyên ngôn Nam quốc sơn hà), Tống quy nhân, cảm tác, Đối hữu nhân diện đàm. Tinh thần yêu nước còn bộc lộ qua niềm vui mừng khi nghĩa quân thắng trận (Văn Dụ Phong tiệp báo), hy vọng khi nhận thư liên lạc từ Tôn Thất Thuyết (Ngư Phong họa thi VI, VII), tình cảm gắn bó sắt son với đồng chí, đồng đội (Tặng Nguyễn Khê Ông thi, Khốc tán lý Cách Pha Nguyễn công tuẫn tiết khóc Nguyễn Cao, Vũ trụ đại khí số, Khốc hiệp đốc quân vụ Nguyễn đại thần văn khóc Nguyễn Văn Giáp, Điếu Thiết Nhai khóc Chu Lăng Thực, Tiễn Ninh Bình Nguyễn tán tương hồi Nam).
  • Tình cảm gắn bó chân thành với nhân dân lao động: Suốt những năm bôn ba ở địa bàn Tây Bắc, tác giả đồng cam cộng khổ với đồng bào các dân tộc thiểu số (Mèo, Nùng, Dao). Tác phẩm ghi lại niềm hân hoan khi thấy mùa màng của nhân dân tươi tốt qua các bài Kiến Chiêu Tấn hòa, Quảng Lăng đạo trung, Đăng Thái Bình sơn. Ông miêu tả phong tục thuần hậu (Miêu dân hậu nghinh đệ gia cảm tác) và nhận thức sâu sắc giá trị lao động, ghi nhận sự sáng tạo của người dân bản địa qua việc chế tạo giấy viết (Kiến Miêu dân chỉ).
  • Tâm trạng bi phẫn vì hoài bão không thành: Khóa luận chỉ rõ khuynh hướng cảm xúc chủ đạo trong tập thơ là nỗi sầu bi tráng. Nỗi buồn xuất hiện khi nghe tiếng côn trùng, tiếng suối, tiếng mưa rơi, uống rượu một mình (Độc chước), cảnh tiễn biệt bạn bè (Tống quy nhân), hay mượn tiếng khóc trẻ thơ (Nhi đề), dòng nước sông Thao (Quá Thao hà thượng lưu cảm tác). Nỗi bi phẫn sâu xa xuất phát từ mâu thuẫn giữa lòng yêu nước nồng nàn, ý chí diệt thù với cảm giác bất lực trước thực tế bế tắc của phong trào kháng chiến (Tái quá Hồng giang thủy chướng bất năng độ, Tư quy). Tác giả khóa luận phân tích nguyên nhân bi kịch xuất phát từ giới hạn giai cấp và thời đại: ý thức hệ trung quân phong kiến rơi vào khủng hoảng khi triều đình đầu hàng; Nguyễn Quang Bích dù thương dân nhưng chưa thấy hết sức mạnh của quần chúng để tổ chức quy mô lớn, mà còn phụ thuộc nhiều vào viện trợ nhà Thanh và một số thủ lĩnh bạn hữu.
  • Tình yêu thiên nhiên đất nước: Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên trong thơ ông với vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ, hiểm trở qua hình ảnh sông Hồng, sông Thao, sông Đà, các ngọn thác dữ và vách núi cao ngút ngàn (Quá Điền Phong đại than, Tọa thượng thạch quan tuyền, Hoài Lai đạo trung, Đăng Thái Bình sơn, Quá Chiến Than). Thiên nhiên hiểm trở không làm nhụt chí mà trở thành phông nền nâng đỡ, tôi luyện ý chí kiên định của người lãnh tụ nghĩa quân.

2. Ngư Phong thi văn tập nhìn từ phương diện nghệ thuật:

  • Bút pháp hiện thực: Nhờ thực tế bôn ba 6 năm kháng chiến tại Tây Bắc và những chuyến sang Trung Quốc, tác phẩm phản ánh chân xác cuộc sống kháng chiến gian khổ, vượt thoát khỏi tính ước lệ tượng trưng và các mô thức "ngư, tiều, canh, mục" sáo mòn của văn học trung đại. Hiện thực trong thơ gắn liền với hình khối sắc cạnh, âm thanh dữ dội của tự nhiên và sinh hoạt thực tế của đồng bào (Sơn Lương trú thứ, Đại Lịch đạo trung, ngộ vũ, Quá Điền Phong đại than).
  • Bút pháp trữ tình: Khóa luận ghi nhận sự kết hợp chặt chẽ giữa cảnh và tình, diễn tả tiếng lòng chân thật, lấy cảnh vật để bộc lộ thế giới nội tâm bi tráng, biến nỗi sầu thời thế thành sức mạnh tinh thần.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ kiện lịch sử - văn bản và đạt được những kết quả cụ thể:

Hạng mục văn bản / Dữ kiện Nội dung chi tiết được xác lập trong khóa luận
Quy mô tập tác phẩm 97 bài thơ chữ Hán (chủ yếu là thể Đường luật), 3 bài văn tế, 4 bài câu đối, liễn điếu, thư từ ngoại giao
Hệ thống hóa nội dung 4 phương diện: (1) Tinh thần yêu nước, chống xâm lược; (2) Tình cảm gắn bó với nhân dân lao động; (3) Tâm trạng bi phẫn vì hoài bão không thành; (4) Tình yêu thiên nhiên đất nước
Đặc trưng nghệ thuật Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực chân xác và bút pháp trữ tình bi tráng, phá vỡ tính ước lệ trung đại
Nhân vật và sự kiện lịch sử gắn kết Khắc họa vai trò các đồng chí kháng chiến: Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Cao, Chu Lăng Thực (Chu Thiết Nhai), Nguyễn Khê Ông, Đốc Ngữ, Đề Kiều
Địa bàn phản ánh Núi rừng Tây Bắc: Hưng Hóa, Cẩm Khê, châu Văn Chấn (Thượng Bằng La), châu Yên Lập (núi Tôn Sơn), sông Đà, sông Thao

Về giải pháp và kiến nghị nghiên cứu: Tác giả nhấn mạnh giới nghiên cứu cần tiếp cận Ngư Phong thi văn tập không chỉ như một hệ thống tư liệu lịch sử minh họa cho phong trào Cần Vương, mà cần xem xét tác phẩm như một chỉnh thể văn học giàu giá trị biểu cảm nghệ thuật và thi pháp ngôn từ chữ Hán.

Về đóng góp khoa học: Khóa luận đã khắc phục sự tản mạn của các bài nghiên cứu trước đây vốn chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ. Công trình đã dựng lại chân dung hoàn chỉnh của Nguyễn Quang Bích trên cả hai cương vị: lãnh tụ quân sự Cần Vương và thi sĩ yêu nước xuất sắc, qua đó khẳng định vị thế vững chắc của ông trong dòng văn học yêu nước cận đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế và hướng mở:

  • Về phạm vi ngữ liệu: Khóa luận chủ yếu dựa trên văn bản đã được tuyển chọn, dịch nghĩa và chú thích trong cuốn sách Thơ văn Nguyễn Quang Bích do Đinh Xuân Lâm giới thiệu (1973), chưa có điều kiện khảo sát trực tiếp toàn bộ các bản khắc Hán Nôm nguyên gốc hoặc các dị bản lưu trữ tại các viện nghiên cứu Hán Nôm.
  • Hạn chế chủ quan: Tác giả tự nhận định do trình độ và thời gian nghiên cứu của một sinh viên tốt nghiệp có hạn, bài viết chưa đi sâu phân tích toàn diện hệ thống thi pháp thể loại, niêm luật chi tiết của từng bài thơ Đường luật chữ Hán cũng như ngôn ngữ của các bài văn tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng so sánh văn bản học giữa Ngư Phong thi văn tập với các tập thơ văn Cần Vương khác ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (như thơ văn Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn), đồng thời đi sâu nghiên cứu giá trị nghệ thuật ngôn từ Hán học cổ điển trong mối liên hệ với thực tế đời sống miền núi Tây Bắc.

Giá trị tham khảo

Khóa luận mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn và Văn học Việt Nam: Khóa luận cung cấp nguồn tư liệu phân tích chi tiết, có hệ thống về một tác gia văn học Cần Vương nửa cuối thế kỷ XIX thường ít được khảo sát sâu trong giáo trình đại học đại cương.
  • Người nghiên cứu lịch sử phong trào Cần Vương và văn học vùng Tây Bắc: Phần tổng hợp bối cảnh lịch sử, tiểu sử nhân vật và các cứ liệu địa lý quân sự (Hưng Hóa, Cẩm Khê, Văn Chấn, Tôn Sơn) ở Chương 1 là tài liệu hữu ích để tái hiện phong trào kháng chiến chống Pháp tại miền núi phía Bắc.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống dẫn chứng thơ chữ Hán kèm bản dịch nghĩa, dịch thơ và những trang phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa nhà thơ và đồng bào thiểu số miền núi (Mèo, Nùng, Dao) – một đề tài rất hiếm gặp trong văn học cổ trung đại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả Nguyễn Quang Bích xuất thân từ dòng dõi nào và con đường cử nghiệp diễn ra ra sao? Nguyễn Quang Bích vốn thuộc dòng dõi họ Ngô xuất xứ từ Đồng Phang (thế kỷ XV), hậu duệ của Ngô Kinh, Ngô Từ (những người có công trong khởi nghĩa Lam Sơn). Ông thi đỗ muộn: 27 tuổi đỗ Tú tài (1858), đỗ Cử nhân năm 1861, và đến năm 38 tuổi (1869) mới đỗ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp).

2. Tập "Ngư Phong thi văn tập" bao gồm những thể loại văn học cụ thể nào và số lượng là bao nhiêu? Tập tác phẩm bao gồm 97 bài thơ chữ Hán (phần lớn theo các thể thơ Đường luật), 3 bài văn tế, 4 bài câu đối, các bức liễn điếu viếng đồng đội và các bức thư từ chối chiêu hàng của quân Pháp.

3. Khóa luận chia giá trị nội dung của tập thơ văn thành mấy phương diện chính? Khóa luận chia giá trị nội dung thành 4 phương diện cụ thể: (1) Tinh thần yêu nước, chống xâm lược; (2) Tình cảm gắn bó chân thành với nhân dân lao động; (3) Tâm trạng bi phẫn vì hoài bão không thành; (4) Tình yêu thiên nhiên đất nước.

4. Khóa luận chỉ ra nguyên nhân dẫn đến bi kịch tâm trạng bi phẫn của Nguyễn Quang Bích trong thơ là gì? Nguyên nhân bắt nguồn từ giới hạn giai cấp và thời đại: ý thức hệ phong kiến "trung quân" bị khủng hoảng do triều đình nhà Nguyễn đầu hàng; Nguyễn Quang Bích tuy yêu nước thương dân nhưng chưa thấy hết sức mạnh của quần chúng để tập hợp thành lực lượng quy mô, mà phụ thuộc nhiều vào sự viện trợ từ nhà Thanh và một số chiến hữu; khi viện trợ chấm dứt và đồng đội hy sinh, sự bế tắc của phong trào đã dẫn đến tâm sự bi kịch.

5. Điểm độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của "Ngư Phong thi văn tập" được khóa luận làm rõ là gì? Đó là bút pháp hiện thực chân xác thoát ly khỏi các ước lệ tượng trưng và mô thức sáo mòn "ngư, tiều, canh, mục". Thơ văn của ông phản ánh trực tiếp cảnh thiên nhiên hiểm trở, dữ dội và đời sống thực tế của đồng bào miền núi Tây Bắc suốt 6 năm bôn ba kháng chiến.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Tuyết đã khảo sát toàn diện và có hệ thống tập tác phẩm Ngư Phong thi văn tập của lãnh tụ Cần Vương Nguyễn Quang Bích trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Công trình làm nổi bật hình ảnh một vị văn thân yêu nước mang tư tưởng quyết chiến chống thực dân Pháp, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động và đồng bào Tây Bắc, đồng thời chất chứa tâm sự bi tráng của một thời đại lịch sử đau thương. Với việc hệ thống hóa 97 bài thơ chữ Hán cùng các thể loại văn tế, câu đối, khóa luận đã khẳng định vững chắc vị trí của Nguyễn Quang Bích trong dòng văn học yêu nước cận đại Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.