CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ẨN SĨ VÀ TỐ CHẤT ẨN SĨ P hạm trù mỹ học phương Đông thời trung đại là trở về với đạo, với bản thể tự T 0 5 nhiên của vũ trụ và con người. Văn chương phương Đông trong thời gian trung đại nằm trong phạm trù mỹ học phương Đông là "văn dĩ tải đạo" và "thi ngôn chí". Phạm trù mỹ học này được xây dựng trên cơ sở tư tưởng phương Đông thời cổ đại mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Đó là hệ thống triết học Nho giáo, Lão Trang và Phật giáo.
Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia nằm trong phạm trù mỹ học và tư tưởng phương Đông. T rong văn chương phương Đông, thuyết "văn dĩ tải đạo" và " thi ngôn chí " thể T 0 5 hiện một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo đức và văn chương để xây dựng nên hình tượng nhà nho, để phản ánh vào thi ca một thế giới lý tưởng từ đời sống hiện thực của xã hội phong kiến. Chảy trong dòng chảy văn chương phương Đông, những thi nhân vĩ đại của Trung Quốc như Khuất Nguyên, Đào Uyên Minh, Nguyễn Tịch, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha. và của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến.
đều là những người bày tỏ chân thành, giản phác lòng nhiệt thành, ưu ái của họ đối với dân, với nước, với đời và với chính họ trong cái nhìn chung, sự vận động chung hài hòa với thiên nhiên tạo vật chớ không bao giờ viễn vông mơ hồ. T rong niềm khao khát được sống và hành đạo theo đạo lý thánh hiền, nhà nho T 0 5 cũng đã nhiều lần vỡ mộng trước hiện thực đen tối của xã hội, vấp ngã trên con đường hoạn lộ, trong lý tưởng đến với chân lý hành đạo, họ đành quay về. Trên hành trình “lánh đục về trong” con đường đã đi qua cũng không phải là con đường bằng phẳng, thênh thang mà thật ra thì lắm gian nan, khó khăn, trắc trở. Từ đó, tầng lớp nhà nho ẩn sĩ được hình thành và phát triển.
Hình ảnh, bóng dáng họ in dấu trong văn chương. Họ là những người đối lập với quan lại, với triều đình phong kiến đương thời. Nhà nho ẩn sĩ trong xã hội Trung Quốc và Việt Nam: 1. Nhà nho ẩn sĩ trong xã hội Trung Quốc: T rong xã hội Trung Quốc cổ đại và trung đại, có thể nói rằng thơ ca đã thâm T 0 5 nhập sâu vào đời sống con người.
Mỗi văn nhân cũng là một thi nhân và thơ chiếm một nửa tác phẩm của họ hoặc là toàn bộ. Thơ ca làm cho tâm hồn người thêm thanh khiết, cảm được cái bí mật vô cùng đẹp của vũ trụ, giải tỏa được cả nỗi bất hòa của con người với hiện thực đen tối của xã hội, làm xúc động bản tính lãng mạn của con người, làm cho họ vượt lên trên đời sống trần thế đầy những phức tạp, làm cho con người kết bạn được với nhau, trở thành tri kỷ, tri âm của nhau, một tình bạn thơ ca không phân biệt sang hèn, tuổi tác, họ tâm đắc và nể phục, tôn trọng, tán dương nhau qua tài thơ của chính họ. Thơ ca đôi khi gợi cả nỗi niềm, tâm sự, đi sâu vào cõi lòng họ làm cho họ cảm thông nhau trước thân phận, trước chí lớn, trước bao điều muốn nói, muốn tỏ bày. Thơ Trung Quốc và nói rộng ra thơ phương Đông mang đặc trưng trung đại thường có nghệ thuật tinh nhã, không khi nào dài, không có giọng hùng mạnh, đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, là tuyệt đỉnh trong sáng tạo nghệ thuật của nhà nho.
Thơ là sự kết tinh của tình cảm, là tư tưởng học thuật Trung Quốc, là phương tiện chứng minh, giải bày sự nhận thức và phản ánh hiện thực. N gười Trung Quốc say mê thiên nhiên, yêu thích ruộng vườn, rừng núi, yêu T 0 5 hoa và chim; thích sống đời sống ung dung, tự do, tự tại, không thích ràng buộc. Vì vậy mà đời sống thuần phác với đời sống điền viên đã thấm nhuần toàn thể văn hóa Trung Quốc. Đối với nhà nho hành đạo, là quan lại chốn triều đình khi có điều kiện gần gũi thiên nhiên, được sống những giây phút an nhàn thư thái hoặc gặp những trở ngại, hoặc bất đắc chí thường nói đến việc về vườn, cho về vườn như là cái nguyện vọng phong nhã nhất, đẹp đẽ nhất, là một việc làm thú vị nhất đời.
Trong cảnh về vườn, thú chơi hoa cảnh, thú ngắm trăng, thú uống rượu, thú đi câu, vui cùng việc đồng áng, dạy lũ trẻ nhỏ học…là sinh hoạt lý tưởng nhất. Lòng yêu thiên nhiên tràn trề trong thơ Trung Quốc là một di sản tinh thần quan trọng, là cội nguồn sản sinh hồn thơ ẩn sĩ cùng với một đời sống rất thật bình dị chốn thôn dã, không danh lợi đua chen. Thơ ẩn sĩ phản ánh một cuộc sống lý tưởng hài hòa với người lao động, hòa nhập vào thiên nhiên của người về ở ẩn. H ệ thống tư tưởng dẫn nhà nho đến con đường ẩn sĩ ngoài thơ ca, còn là lối T 0 5 sống truyền thống sùng bái tác phong thuần phác của thời thượng cổ, luôn luôn mơ ước lùi lại cái thời Nghiêu, Thuấn, một thời đại hoàng kim, bình trị, sinh hoạt giản dị, rất ít nhu cầu của Khổng giáo, là đạo thanh tĩnh vô vi, là chủ trương về với thiên nhiên của Lão giáo, là chủ trương lìa xa, cắt đứt với quan trường của Trang Tử, là con đường thoát tục của Phật giáo.
H àn Triệu Kỳ "Ẩn sĩ Trung Hoa" đã tổng kết lịch sử ẩn sĩ với 14 phần: Nguồn T 0 5 gốc ẩn sĩ, Vì sao ẩn sĩ ở ẩn, Diện mạo muôn hình muôn vẻ của ẩn sĩ, Ẩn sĩ trong mối quan hệ với chính trị đương thời, Tình hình cơm áo của ẩn sĩ, Tình hình cư t rú T 0 5 T 0 5 của ẩn sĩ, Gia đình của ẩn sĩ, Quan hệ xã hội của ẩn sĩ, Ẩn sĩ với việc ngao du sơn thủy, Ẩn sĩ với thơ, Ẩn sĩ với học thuật và nghệ thuật, Ẩn sĩ với trà, Ẩn sĩ với rượu, Ẩn sĩ với dưỡng sinh. Qua đó chân dung nhà nho ẩn sĩ Trung Quốc suốt mấy ngàn năm đã được phác họa một cách khá toàn diện. Ẩ n sĩ được định nghĩa: “Ẩn sĩ cũng gọi U nhân, Dật nhân, Cao sĩ. Từ ẩn sĩ đối T 0 5 T 0 5 T 0 5 lập với quan lại, ý nói người ấy có đạo đức, tài năng, vốn có thể làm quan, nhưng vì lý do khách quan hay chủ quan nào đó mà không bước vào quan trường hoặc đang làm quan rất thuận lợi nhưng vì lý do khách quan hay chủ quan nào đó nên rời bỏ quan trường, tìm một nơi để ẩn, đó cũng gọi là ẩn sĩ.
Nếu ẩn sĩ thay đổi hành động, bước vào quan trường thì gọi là "nhập thế". Chúng ta cứ nhìn vào chỗ "xuất" hay "nhập" cũng có thể thấy sự đối lập giữa ẩn sĩ và quan lại”. Lịch sử xã hội Trung Quốc mấy ngàn năm của thời cổ đại và trung đại cũng cho thấy điều này "Trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm ở Trung Quốc, ẩn sĩ và quan lại là một cặp anh em song sinh diện mạo khác nhau, phục sức khác nhau. Họ dựa vào nhau mà tồn tại, có mâu thuẫn nhưng cũng có quan hệ, họ là hai lực lượng được kẻ thống trị các đời dùng để thống trị đất nước và nhân dân.
Lịch sử ẩn sĩ cũng lâu đời như lịch sử quan lại, tức là từ khi có quan lại thì đồng thời cũng có ẩn sĩ ". Sự thật hiển nhiên này được tính từ sớm nhất cho đến triều Mãn Thanh. Đầu tiên là Hứa Do, Sào Phủ; cuối đời Thương là Khương Thái Công, Bá Di, Thúc Tề; t hời Xuân Thu là Giới Chi T 0 5 T 0 5 Thôi, Trường Thư, Kiệt Nịch, Sở Cuồng Tiếp Dư, Hà Điều; đầu thời Chiến Quốc là Đoàn Can Mộc, Nhan Xúc; cuối thời Tần đầu thời Hán là Dĩ thượng lão nhân, Thương Sơn tứ hạo. Điểm qua các ẩn sĩ từ lúc bắt đầu cho đến thời Tần Hán, Hàn Triệu Kỳ đã phản ánh thực tại ẩn sĩ: "Từ thái độ chính trị của các ẩn sĩ được ghi chép mà nhìn, thì phẫn lớn là những người căm ghét quan trường, bất hợp tác với kẻ thống trị đương thời.
Cũng chính vì họ có ít người, không thành lực lượng gì đáng kể, nên kẻ thống trị các đời cũng không có chính sách nào đáng lưu ý với họ, về cơ bản cứ để mặc họ tự sinh tự diệt ". Thời đại hoàng kim của ẩn sĩ là từ thời Tây Hán đến cuối thời Đông Hán, thời đại này, xã hội bế tắc, tư tưởng Nho gia bị vứt bỏ, tư tưởng Đạo gia, tư tưởng Phật giáo lan rộng. Đến thời Ngụy Tấn ẩn sĩ càng nhiều nhưng tiêu chuẩn ẩn sĩ đã bị hạ thấp, ở đó có ẩn sĩ thật và ẩn sĩ giả. Sở dĩ có tình trạng này là do triều đình có sự ưu đãi, ca ngợi và tỏ thái độ rộng rãi với ẩn sĩ.
Dưới thời Đường, Tống, ẩn sĩ được quý trọng, được đắc ý nhất. Do tôn trọng ẩn sĩ, con đường làm quan theo "lối tắt Chung Nam" trở thành phổ biến đối với loại người " ở ẩn để làm quan". Cũng do những biểu hiện sai lệch về ẩn sĩ của hạng người làm ẩn sĩ giả đã bị triều đình coi khinh, thái độ này đã được phản ánh trong "Tân Đường thư" của Âu Dương Tu, Tống Kỳ. Thời Nguyên, Minh, Thanh sự đối lập giữa ẩn sĩ và triều đình là phổ biến, thậm chí sự đối lập đó trở thành mâu thuẫn gay gắt.
Điều này được ghi nhận lại trong Minh sử, Ẩn dật truyện. Hàn Triệu Kỳ đã đi đến nhận định có ý nghĩa cho việc nghiên cứu ẩn sĩ: "Lý do ẩn sĩ ở ẩn vốn có rất nhiều, diện mạo ẩn sĩ vì thế cũng muôn hình muôn vẻ, mỗi thời kỳ do nguyên nhân chính trị hoặc nguyên nhân phong khí xã hội nào đó dẫn tới mà loại ẩn sĩ nào đó tăng lên, nhưng hoàn toàn không thể chỉ có một loại ẩn sĩ hay hoàn toàn không có một loại nào. Mà hiện nay chúng ta đọc tới tài liệu của mỗi thời kỳ thì cứ nghiêng về một phía, rất dứt khoát, điều đó không thể chứng minh rằng đương thời không có loại ẩn sĩ nào khác, chỉ có thể nói tác giả Dật dân truyện của triều đại nào lựa chọn ra sao, hoặc tác giả ấy vốn đại biểu cho cách lựa chọn nào của chính quyền đương thời mà thôi ".