mở đầu loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (in trong Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử) do Trần Đình Sử chủ biên), tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã nhận định: “Việc đặt bộ sách như một tác phẩm văn xuôi tự sự sẽ bao quát được tất cả các nội dung văn - sử - triết, giải thích được đầy đủ tính chất hỗn dung thể loại, sự đan xen lời đối thoại, văn xuôi và thơ ca trong cùng một cấu trúc văn bản tự sự, việc ghi chép tiểu sử cuộc đời thiền sư với khả năng tích hợp các yếu tố folklore… Như vậy, hoàn toàn có thể xác định Thiền uyển tập anh là một trong những tác phẩm khởi đầu và có ý nghĩa điển hình cho loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại” [130, tr. Nếu thời trung đại, văn xuôi tự sự được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, với ba hình thức tự sự chủ yếu: truyện, tiểu thuyết (chương hồi) và ký thì sang thời hiện đại nó lại mang một diện mạo, hình thức khác trước, đó là sự ra đời các hình thức thể loại hiện đại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, phóng sự. Khi bàn về văn xuôi tự sự hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng trong bài viết Các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nói về văn tự sự (Tự sự học - 17 Trần Đình Sử chủ biên) đã dẫn ra những nhận định về văn tự sự của Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Hoàng Tích Chu, Phạm Quỳnh, Vũ Đình Long, Trúc Hà, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều, Trương Tửu, Hải Triều, Như Phong, Vũ Ngọc Phan, Thạch Lam, Vũ Bằng. Cuối cùng, Nguyễn Nghĩa Trọng kết luận: “Các nhà văn thống nhất xem văn tự sự là văn kể chuyện, trần thuật sự việc, mô tả hành động, bao gồm cả tả cảnh, tả tình, tả ngoại hình, nội tâm… Văn tự sự có đầy đủ trong tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tùy bút, ký sự, phóng sự, truyện ký… Nó tổng hợp các loại văn xuôi, đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên có trường hợp tự sự là văn vần. Văn tự sự ngày càng phát triển và có triển vọng to lớn nhưng luôn đổi mới tùy hoàn cảnh lịch sử xã hội và tài năng của các nhà văn” [130, tr. Về phương thức tự sự, trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức cho rằng tự sự ghi chép lại “Quan hệ giữa con người với cuộc sống khách quan, và không tập trung ở sự khai thác tâm trạng chủ quan của người viết mà hướng về thế giới khách quan. Nhận thức thế giới khách quan một cách chân thực, phát hiện vào chiều sâu của thực tại, ghi chép được những mặt phong phú của đời sống để góp phần cải tạo cuộc sống là yêu cầu chân chính của phương thức tự sự” [45, tr.
Tất cả những nghiên cứu lý thuyết được điểm qua ở trên giúp chúng tôi có chỗ dựa về lý luận để triển khai đánh giá văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư theo những phương diện phù hợp với đặc trưng loại hình của nó, từ đó, có thể chỉ ra một cách thuyết phục những đóng góp của của mảng sáng tác này cho văn xuôi tự sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 nói riêng và văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại nói chung. Nghiên cứu về ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi tự sự Việt Nam nói riêng 1. Những nghiên cứu công bố trước 1945 Trong phần viết này, điều chúng tôi quan tâm là những gợi mở từ những nghiên cứu về vấn đề nói trên đối với việc tìm hiểu những đặc điểm của văn 18 xuôi tự sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (trong đó có văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư) - những đặc điểm được hình thành trong sự cọ xát văn hóa và trong những nỗ lực hiện đại hóa văn học của những nhà văn thức thời, được đào tạo từ “trường Tây”, trong khi đón ngọn gió văn minh từ phương xa thổi tới vẫn không thôi thao thức với bẳn sắc và tiền đồ của nền văn hóa, văn học Việt Nam. Trước khi tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây, văn học Việt Nam đã có truyền thống tự sự bằng văn xuôi với những thành tựu đáng tự hào.
Điều này có thể được kiểm chứng qua những bộ sưu tập dày dặn như Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại gồm 3 tập do nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na tuyển soạn và giới thiệu (Nxb Giáo dục 1997 - 2000) mà ở trên chúng tôi đã nhắc tới. Đến cuối thế kỷ XIX, văn xuôi tự sự Việt Nam đã có một khuôn mặt khác: truyện ngắn khác truyện truyền kỳ xưa, tiểu thuyết không còn là tiểu thuyết chương hồi nữa và ký thì có nhiều tiểu loại phong phú hơn, với việc đề cao nguyên tắc ghi chép trung thành những sinh hoạt thường ngày… Đây chính là lý do thúc đẩy các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu ảnh hưởng của văn học phương Tây, văn học Pháp đến văn học Việt Nam cũng như sự tiếp nhận chủ động những ảnh hưởng đó của các nhà văn Việt Nam đang khát khao đổi mới và hiện đại hóa sáng tác. Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, văn học Việt Nam cuối thể kỷ XIX đã có một cuộc tiếp xúc sâu rộng với nền văn hóa, văn học phương Tây qua văn hóa, văn học Pháp. Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu như Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Hoài Thanh - Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Kiều Thanh Quế… xác nhận, khẳng định.
Có thể nêu ý kiến tiêu biểu sau đây của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu khi nhận định về số người Nam ảnh hưởng văn hóa văn học phương Tây (đặc biệt là nước Pháp) ngày càng nhiều: “Sau khi người Pháp cai trị nước ta, Pháp học một ngày một phát đạt, số người Nam học chữ Pháp càng ngày càng nhiều, trước còn ở bậc tiểu học, trung học, sau lên đến bậc đại học, nhờ đó mà các bậc học thức trong nước được tiếp xúc thẳng với nền văn học của Âu Tây, thứ nhất là của nước Pháp và chịu ảnh hưởng sâu xa của nền văn hóa 19 ấy” [49, tr. Nhà nghiên cứu còn khẳng định cuộc tiếp xúc với phương Tây đã khiến cho luân lý, xã hội Việt Nam có sự thay đổi, chẳng hạn: con người bấy giờ thường hay nhắc đến chủ nghĩa cá nhân, những quan niệm về công dân, nghề nghiệp, danh dự… Dương Quảng Hàm đã phân tích khá kỹ lưỡng sự thay đổi nhiều mặt của văn học nước Nam khi tiếp xúc với nền văn học phương Tây (cụ thể là văn học Pháp). Về đường học thuật: “Các nhà trí thức biết để ý đến học thuật của các nước trên hoàn cầu, đến việc nước ta và việc thiên hạ; biết giá trị của phương pháp khoa học, của sự tìm tòi, sự phát minh và biết trọng những đặc sắc” [49, tr. Còn ngôn ngữ và văn tự, Dương Quảng Hàm nhận định nó đã có nhiều đổi mới: “Nhờ ảnh hưởng của Pháp văn, nhiều nhà viết quốc văn ta gần đây đã biết trọng sự bình giảng sáng sủa, gãy gọn.
Có nhiều cú pháp mới phỏng theo cú pháp văn Tây mà đặt ra. Đồng thời có nhiều danh từ gốc ở chữ Pháp đã theo cách phiên âm mà sáp nhập tiếng ta và có nhiều thành ngữ của Pháp đã do các nhà viết văn đem dịch ra tiếng ta” [49, tr. Khi nói tới “đường văn chương”, nhà nghiên cứu đem so sánh văn chương của “các cụ” xưa kia với các nhà học thức quốc văn. Các cụ thường viết văn bằng chữ Nho nhưng “nhãng bỏ quốc văn”, họ thường “chuộng từ chương mà không vụ thực sự”, chú trọng đến “hạng người cao quý” mà không quan tâm tới lớp “thường dân”.
Còn nay: “Các nhà học thức đã biết trọng quốc văn, biết quan sát và mô tả các cảnh vật xác thực, biết để ý đến cuộc sinh hoạt của người bình dân” [49, tr. Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam khẳng định về ảnh hưởng phương Tây trên mọi phương diện của đời sống: “Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp… còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết mọi sự thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình như ngày trước. Nào dầu Tây, diêm Tây, nào vải Tây, chỉ Tây, kim Tây, đinh Tây.
Đừng tưởng tôi ngụy biện. Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về 1 Khi trích dẫn ý kiến của Dương Quảng Hàm, chúng tôi bỏ gạch nối giữa các từ ghép mà tác giả đã sử dụng một cách nhất quán, để phù hợp với quy cách chính tả hiện nay. 20 vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới” [133, tr.
Cũng như Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhìn rõ sự thay đổi cả ở trong văn học, trong tư tưởng, hành động để hướng tới một nền quốc văn mới: “Họ bắt đầu viết quốc ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây. Câu văn của họ cũng bắt đầu có cái rõ ràng, cái sáng sủa của văn tây. Những tư tưởng phương Tây đầy rẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam phong tạp chí và từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học. Người ta đua nhau cho con em đến trường Pháp Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp.
Thế rồi có những người Việt Nam đậu kỹ sư, đậu bác sỹ, đậu thạc sỹ, có những người Việt Nam nghiên cứu khoa học, triết học; và có những người Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt Nam […]. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu hóa” [133, tr. Cả Dương Quảng Hàm lẫn Hoài Thanh - Hoài Chân đều nhận định sự tiếp xúc với phương Tây tỏa khắp đời sống của dân tộc. Việc tiếp xúc cụ thể với văn học Pháp là con đường đầu tiên để cho lớp trí thức Tây học đến với nền văn minh phương Tây.
Từ đó, nước nhà đã có phong trào quốc văn mới dựa trên sự thay đổi về tư tưởng, ngôn ngữ, văn chương.