Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, Lưu Trọng Lư chủ yếu được ghi nhận và nghiên cứu sâu rộng ở tư cách một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Tuy nhiên, trước năm 1945, bên cạnh di sản thi ca, ông đã sáng tác một khối lượng lớn tác phẩm văn xuôi tự sự gồm 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết. Bộ phận sáng tác này thể hiện sự đa dạng về đề tài, ngôn từ, giọng điệu và phản ánh cái nhìn đa chiều về hiện thực đời sống xã hội.

Mặc dù có số lượng đồ sộ, mảng văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trong giai đoạn 1930 - 1945 chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức và thường bị lu mờ trước các tác gia văn xuôi cùng thời. Sự nhìn nhận trước đây còn tản mạn, phiến diện, thậm chí tồn tại nhiều đánh giá trái chiều, khắt khe. Năm 2011, bộ sách Lưu Trọng Lư, Tác phẩm - truyện ngắn và tiểu thuyết (trọn bộ 2 tập, Nhà xuất bản Lao Động và Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây) do Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh sưu tầm, biên soạn được xuất bản, cung cấp đầy đủ hệ thống văn bản văn xuôi của tác giả. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là: còn thiếu một công trình khoa học quy mô, khảo sát toàn diện và có hệ thống mảng văn xuôi tự sự trước 1945 của Lưu Trọng Lư dưới góc độ thi pháp học, loại hình học và lịch sử văn học, nhằm xác lập vị trí thỏa đáng của ông trong tư cách một tác gia đa năng và làm rõ bức tranh văn xuôi thời kỳ 1930 - 1945.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Khảo sát toàn diện những đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư giai đoạn trước 1945, qua đó hướng tới việc đánh giá thỏa đáng về Lưu Trọng Lư với tư cách một nghệ sĩ đa năng; đồng thời góp phần bổ sung, điều chỉnh một số luận điểm đánh giá về đặc điểm, diện mạo và thành tựu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trên cơ sở nguồn tư liệu mới được công bố.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
    1. Tổng thuật tình hình nghiên cứu về sáng tác của Lưu Trọng Lư nói chung, văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư nói riêng và minh định một số khái niệm, thuật ngữ then chốt được dùng để nghiên cứu đối tượng này.
    2. Nhận diện, phân tích những nét riêng về khuynh hướng thẩm mỹ của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trong mối quan hệ với những khuynh hướng thẩm mỹ chủ đạo của văn học (trước hết là văn xuôi) Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
    3. Làm sáng tỏ những nét độc đáo của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trên phương diện đề tài và hệ thống hình tượng, trong sự so sánh cùng bình diện với sáng tác của những nhà văn khác cùng thời.
    4. Chỉ ra, phân tích và đánh giá (trên cơ sở so sánh đa chiều) những kiểu lựa chọn nghệ thuật đặc thù của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư giai đoạn trước 1945 trên các bình diện: khuynh hướng thẩm mỹ, hệ thống đề tài, thế giới hình tượng và các lựa chọn nghệ thuật đặc thù.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát:
    • Tư liệu trực tiếp: 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư sáng tác trước năm 1945 được tập hợp trong công trình Lưu Trọng Lư, Tác phẩm - truyện ngắn và tiểu thuyết (2 tập, 2011).
    • Tư liệu đối sánh: Các sáng tác văn xuôi của các tác giả cùng thời kỳ 1930 - 1945 (như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh) và các tác phẩm văn xuôi giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Tập trung vào giai đoạn văn học 1930 - 1945 tại Việt Nam, gắn với các không gian nghệ thuật và bối cảnh sống của tác giả: vùng nông thôn Quảng Bình, đô thị Huế và Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 4 nhóm nội dung:

1. Nghiên cứu lý thuyết về văn xuôi tự sự

  • Các công trình quốc tế: Tác giả tiếp thu các quan điểm lý luận về thể loại tự sự từ G. Pospelov (Dẫn luận nghiên cứu văn học tập II) về sự phân định văn xuôi - thơ, cấu trúc nhân vật theo B. Brecht, hình thức dung lượng thể tài (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết); J. Culler về vị trí trung tâm của tự sự trong đời sống văn hóa; F. Lyotard về kiến thức tự sự và chức năng giao tiếp văn hóa; Tz. Todorov với cấu trúc diễn ngôn (discours) và câu chuyện (histoire) trong Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày (1969); S. Chatman về discourse và story; G. Prince về phân lập giữa trần thuật và được trần thuật; Roland Barthes và các thành tựu của trường phái Cấu trúc luận Pháp (tạp chí Communications số 8 năm 1966).
  • Các công trình trong nước: Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) phân tích ba khuynh hướng biến hóa của quốc văn văn xuôi; Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) phân biệt văn nghệ thuật và văn luận thuyết; Vương Trí Nhàn (Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa văn học); Nguyễn Đăng Na (Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại: những bước đi lịch sử) xác định 3 bước tiến trình văn xuôi tự sự trung đại; Nguyễn Hữu Sơn về tính chất hỗn dung thể loại trong Thiền uyển tập anh; Nguyễn Nghĩa Trọng, Trần Đình Sử (Tự sự học - lý thuyết và ứng dụng); Hà Minh Đức (Lý luận văn học); Nguyễn Thái Hòa về điểm nhìn nghệ thuật.

2. Nghiên cứu về ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với văn học Việt Nam

  • Giai đoạn trước 1945: Dương Quảng Hàm phân tích sự biến đổi của luân lý, học thuật, ngôn ngữ, ngữ pháp và việc miêu tả cuộc sống bình dân; Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1942) chỉ ra sự thay đổi toàn diện từ vật chất, lối sống đến tư tưởng phương Tây và việc sử dụng chữ quốc ngữ như phương tiện Âu hóa.
  • Giai đoạn sau 1945: Bùi Đức Tịnh (Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết & Thơ mới) nghiên cứu văn học Nam Bộ 1911 - 1932; Phạm Thế Ngũ chỉ ra dấu ấn của các trường phái Pháp (lãng mạn, tả chân, tượng trưng, siêu thực, "gidisme") trong văn xuôi Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh; Phan Cự Đệ (Văn học Việt Nam thế kỷ XX) phân tích tư duy tượng trưng, siêu thực và ý thức cá nhân trong tác phẩm Văn chương và hành động của Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều; Hà Minh Đức nhấn mạnh mạch nguồn truyền thống kết hợp tinh thần lãng mạn ở Lưu Trọng Lư.

3. Nghiên cứu mang tính khái quát về vị trí của Lưu Trọng Lư

  • Trước 1945: Hoài Thanh - Hoài Chân, Dương Quảng Hàm, Lê Tràng Kiều ghi nhận vai trò mở đường, diễn thuyết cổ vũ Thơ mới tại Quy Nhơn (1934), tập thơ đầu tay của Ngân sơn tùng thư (1933) và đặc trưng hồn thơ "mơ màng", "thổn thức". Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại) bước đầu đề cập văn xuôi nhưng đánh giá tiểu thuyết của ông còn phẳng lặng, kết cấu lỏng lẻo.
  • Sau 1945: Phạm Thế Ngũ xếp Lưu Trọng Lư vào mục các tiểu thuyết gia của nhà xuất bản Tân Dân (Con đười ươi, Từ thiên đường đến địa ngục, Nàng công chúa Huế, Huế một buổi chiều), chia sẻ nhận định khắt khe của Vũ Ngọc Phan về kỹ thuật xây dựng truyện.

4. Nghiên cứu chuyên sâu về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945

  • Trước 1945: Các cuộc thảo luận, phê bình trên báo chí đương thời như ý kiến của Thế Lữ phê bình Khói lam chiều; Lê Tràng Kiều bênh vực và khẳng định chất tình cảm lãng mạn kiểu George Sand của Khói lam chiều (trên Hà Nội báo năm 1936) và giới thiệu Nàng công chúa Huế (trên Tiểu thuyết thứ năm năm 1938); Phan Khôi nhận xét về tác phẩm văn xuôi đầu tay Người sơn nhân (1933).
  • Sau 1945: Nguyễn Văn Long (Lưu Trọng Lư - Về tác gia và tác phẩm) phân tích Người sơn nhân, Khói lam chiều, các truyện huyền ảo (Huyền không động), tình ái (Em là gái bên song cửa), lịch sử (Con voi già của vua Hàm Nghi) và tự truyện (Chiếc cáng xanh, Dòng họ); Lại Nguyên Ân (2011) chỉ ra mối liên hệ thơ - văn xuôi, dấu ấn ba vùng địa lý (Quảng Bình, Huế, Hà Nội), mẫu nhân vật "con người thất bại"; Lưu Khánh Thơ trong Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (tập 1) phân tích kết cấu và phương thức khắc họa nhân vật qua 7 tác phẩm; các luận văn thạc sĩ của tác giả (Đại học Vinh, 2012), Trần Hoài Ngọc (2012), Lê Phương Thảo (2013).
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
|                              KHOẢNG TRỐNG VÀ VỊ TRÍ CỦA LUẬN ÁN                         |
+------------------------------------+----------------------------------------------------+
| Tình trạng nghiên cứu trước đây    | Luận án giải quyết                                 |
+------------------------------------+----------------------------------------------------+
| Tập trung chủ yếu vào thơ ca; văn  | Khảo sát đồng bộ toàn bộ 27 truyện ngắn và 27 tiểu |
| xuôi bị xem là thứ yếu, viết vội.  | thuyết trước 1945 được tập hợp đầy đủ năm 2011.    |
+------------------------------------+----------------------------------------------------+
| Phân tích tản mạn từng tác phẩm    | Khái quát hóa thành các hệ thống: khuynh hướng     |
| riêng lẻ, thiếu tính hệ thống.     | thẩm mỹ, hệ thống đề tài, hình tượng và nghệ thuật.|
+------------------------------------+----------------------------------------------------+
| Đánh giá cảm tính, khắt khe về mặt | Vận dụng thi pháp học và tự sự học để chỉ ra quy   |
| kỹ thuật cốt truyện truyền thống.  | luật sáng tạo đặc thù: sự hòa trộn thể loại, chất  |
|                                    | thơ và xu hướng phong tục hóa.                     |
+------------------------------------+----------------------------------------------------+

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Văn xuôi tự sự: Được xác định là loại hình văn học biểu đạt hiện thực đời sống và con người một cách khách quan thông qua các yếu tố sự kiện, biến cố, hành động, nhân vật, người trần thuật và cốt truyện, phân biệt với văn xuôi trữ tình (nhấn mạnh cảm xúc nội tâm, nhạc tính) và văn xuôi nghị luận. Luận án nghiên cứu các thể loại cụ thể gồm truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết.
  • Các phạm trù tự sự học: Sử dụng các khái niệm về người kể chuyện, trần thuật, kết cấu (trình tự biên niên, đảo lộn thời gian, kết cấu tùy hứng), điểm nhìn nghệ thuật (theo mô hình ba tham số: tiêu điểm, khoảng cách, phương vị).
  • Khuynh hướng thẩm mỹ (Aesthetic Tendency): Khái niệm chỉ thiên hướng lựa chọn phương tiện, kỹ thuật, chất liệu biểu đạt nhằm hiện thực hóa quan niệm thẩm mỹ về cái đẹp, cái cao cả, cái bi kịch trong sáng tác. Luận án khảo sát sự đan xen giữa hai khuynh hướng chính:
    • Khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển: Hướng về vẻ đẹp mực thước, trang trọng, hài hòa, quy phạm, gắn kết con người với vũ trụ và luân lý truyền thống, chịu ảnh hưởng từ văn học trung đại và chủ nghĩa cổ điển Pháp.
    • Khuynh hướng thẩm mỹ thị dân: Hướng về đời sống cá nhân, tình cảm riêng tư, môi trường đô thị hiện đại và sự tự do cảm xúc của con người thời kỳ Âu hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Ngữ văn:

STT Tên phương pháp Nội dung và phạm vi vận dụng trong luận án
1 Phương pháp tiếp cận thi pháp học Khảo sát văn bản ngôn từ của 54 tác phẩm nhằm phát hiện tính chỉnh thể nghệ thuật: quan niệm nhân sinh, cấu trúc không - thời gian, thế giới nhân vật và giọng điệu trần thuật.
2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống Nhìn nhận văn xuôi Lưu Trọng Lư như một hệ thống nghệ thuật toàn vẹn, đồng thời là một phân hệ cấu thành chỉnh thể văn nghiệp tác giả và bức tranh văn học giai đoạn 1930 - 1945.
3 Phương pháp loại hình Định vị văn xuôi Lưu Trọng Lư trong loại hình văn xuôi tự sự trữ tình, xác lập mối liên hệ loại hình với các cây bút cùng khuynh hướng như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn.
4 Phương pháp so sánh Thực hiện so sánh đồng đại (với Tự lực văn đoàn, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố) và so sánh lịch đại (với văn xuôi 30 năm đầu thế kỷ XX của Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn) để làm nổi bật nét riêng.
5 Phương pháp lịch sử - xã hội Đặt sáng tác vào bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ đô thị hóa, giao lưu văn hóa Đông - Tây và phong trào Âu hóa nửa đầu thế kỷ XX.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các thao tác bổ trợ: khảo sát văn bản, phân loại, phân tích - tổng hợp, thống kê tư liệu tác phẩm.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tiến hành hệ thống hóa nền tảng lý thuyết và lịch sử nghiên cứu qua 4 nội dung chính:

  • Minh định khái niệm văn xuôi tự sự, rà soát các lý thuyết tự sự học kinh điển và hậu kinh điển của Tz. Todorov, S. Chatman, G. Prince, Roland Barthes, G. Pospelov cùng các công trình nghiên cứu tự sự học tại Việt Nam của Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Na.
  • Đánh giá tác động của văn hóa và văn học phương Tây (trọng tâm là văn học Pháp) đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam về mặt quan niệm cá nhân, ngôn ngữ, thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết qua nhận định của Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh, Bùi Đức Tịnh, Phạm Thế Ngũ.
  • Khái quát vị trí của Lưu Trọng Lư trong bức tranh văn học trước 1945: từ người mở đường phong trào Thơ mới đến vị thế một nhà văn có số lượng xuất bản văn xuôi đáng kể tại các nhà xuất bản đương thời (Tân Dân, Ngân sơn tùng thư).
  • Tổng kết lịch sử đánh giá văn xuôi Lưu Trọng Lư qua các thời kỳ: ghi nhận các cuộc tranh luận trước 1945 (Thế Lữ, Lê Tràng Kiều), các nhận định sau 1945 (Nguyễn Văn Long, Lại Nguyên Ân, Lưu Khánh Thơ) và các luận văn thạc sĩ chuyên đề.

Chương 2: Sự hòa trộn các khuynh hướng thẩm mỹ trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945

Chương 2 phân tích sự giao thoa giữa các khuynh hướng thẩm mỹ thời đại trong văn xuôi của tác giả:

  • Nhận diện hai khuynh hướng thẩm mỹ chính: Khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển (bắt nguồn từ văn học dân tộc, chịu ảnh hưởng chủ nghĩa cổ điển Pháp, chú trọng sự mực thước, trang trọng, luân lý) và khuynh hướng thẩm mỹ thị dân (phản ánh lối sống, tâm lý cá nhân, sự giải phóng tình cảm của cư dân đô thị mới).
  • Tiếp biến và hội tụ thẩm mỹ: Văn xuôi Lưu Trọng Lư không vận động đơn tuyến mà là điểm giao cắt giữa tinh thần lãng mạn phương Tây với tâm thức hoài cổ phương Đông; dung hòa giữa cảm quan tôn vinh đạo lý truyền thống với khát vọng tự do ái tình thị dân.
  • Nguyên tắc phản ánh - biểu hiện:
    • Chú ý đến những uẩn khúc trong tình cảm của nhân vật: Đi sâu khai thác những rung cảm mong manh, mâu thuẫn nội tâm, nỗi sầu muộn vô cớ và những rạn vỡ tâm lý của con người trước hoàn cảnh trắc trở.
    • Chú ý miêu tả những thân phận phụ nữ không may mắn: Thể hiện niềm trắc ẩn sâu sắc đối với số phận người phụ nữ chịu định kiến hà khắc của xã hội cũ (như hủ tục phạt vạ, phận làm lẽ, gái giang hồ).
    • Phối trí hài hòa không gian xa xăm với không gian cụ thể: Kết hợp giữa không gian hiện thực đô thị (Hà Nội, Huế) với không gian thiên nhiên núi rừng mờ ảo, hoài niệm chốn thôn dã (Quảng Bình).

Chương 3: Dấu ấn của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 ở hệ thống đề tài và hệ thống hình tượng

Chương 3 chỉ ra những nét đặc thù của thế giới nghệ thuật Lưu Trọng Lư trong tương quan so sánh với các tác giả cùng thời:

  • Nét riêng của hệ đề tài:
    • Đề tài con người trong môi trường đô thị: Miêu tả đời sống thị dân với những va đập giữa lối sống mới và nề nếp gia đình truyền thống, những cảnh ngộ bơ vơ nơi phố thị.
    • Đề tài con người lỡ vận: Phản ánh số phận những trí thức tiểu tư sản, những kiếp người nghèo khổ, trắc trở trên con đường mưu sinh và lập nghiệp.
    • Đề tài kỷ niệm riêng tư: Khai thác chất liệu tự truyện, hoài niệm về thời ấu thơ, quê hương, gia tộc và những mối tình dĩ vãng (thể hiện rõ qua Chiếc cáng xanh, Dòng họ).
  • Nét riêng của hệ thống hình tượng nhân vật:
    • Hình tượng con người mang tâm lý thất bại: Kiểu nhân vật yếu đuối, bất lực trước thực tế khắc nghiệt, thường tìm cách trốn chạy vào thế giới nội tâm hoặc chấp nhận số phận đắng cay do rào cản gia đình, tôn giáo.
    • Hình tượng con người chìm đắm trong ái tình: Nhân vật sống hết mình cho tình yêu, coi ái tình là lẽ sống tối thượng, vượt qua ranh giới tiên - tục, sang - hèn (Công chúa Lã Mai, Con đười ươi).
    • Hình tượng con người mộng ảo: Nhân vật lãng mạn, mang tâm hồn mơ màng, sống giữa ranh giới giữa chiêm bao và thực tại.

Chương 4: Những kiểu lựa chọn nghệ thuật đặc thù trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945

Chương 4 làm rõ các thủ pháp và phương thức tổ chức văn bản nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân:

  • Sử dụng và cải biến các mô típ quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn: Tiếp thu các mô típ lãng mạn phương Tây (giấc mộng, sự trốn thoát, tình yêu định mệnh, cái chết bi thương) và bản địa hóa vào bối cảnh phong tục, tâm lý người Việt.
  • Nhào nặn chất liệu hiện thực theo hướng phong tục hóa: Tác giả không đi sâu vào tiểu thuyết hóa xung đột giai cấp gay gắt mà tập trung tái hiện sinh động các tập quán, phong tục cổ truyền (tục phạt vạ gái chửa hoang trong Khói lam chiều, tục chăng dây xin cheo trong đám cưới ở Chiếc cáng xanh, quan hệ tông tộc phụ hệ trong Dòng họ).
  • Tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất văn xuôi và chất thơ:
    • Cái nhìn thơ về hiện thực: Nhìn đời sống bằng lăng kính trữ tình, nắm bắt các trạng thái cảm xúc mong manh, biến ảo của thiên nhiên và tâm hồn.
    • Ngôn ngữ và giọng điệu: Sử dụng câu văn mềm mại, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh gợi cảm; giọng điệu trần thuật thiết tha, ngậm ngùi, phảng phất phong vị ca dao và thơ cổ điển xen lẫn tính hiện đại của câu văn chịu ảnh hưởng ngữ pháp tiếng Pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về mảng văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trước 1945 dựa trên toàn bộ khối lượng 54 tác phẩm (27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết) được ấn hành đầy đủ năm 2011.
  • Xác lập cái nhìn khoa học, khách quan nhằm điều chỉnh những đánh giá chưa thỏa đáng trước đây (vốn chỉ coi Lưu Trọng Lư là nhà thơ hoặc đánh giá thấp kỹ thuật kết cấu văn xuôi của ông). Luận án khẳng định văn xuôi của ông có những quy luật thi pháp riêng: lối kết cấu tùy hứng, lấy cảm xúc và tâm lý nhân vật làm trục dẫn dắt, hòa trộn giữa tự sự và trữ tình.
  • Cung cấp thêm cứ liệu xác thực về quá trình tiếp biến văn hóa và văn học phương Tây ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, chứng minh sự song hành và dung hợp giữa khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển phương Đông với khuynh hướng thẩm mỹ thị dân hiện đại trong thực tiễn sáng tác.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng

  • Khôi phục và làm phong phú thêm diện mạo phong cách của tác gia Lưu Trọng Lư trong tư cách một tác giả văn học đa năng.
  • Cung cấp hệ thống tư liệu khoa học có độ tin cậy cao phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên đề văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở cả hai bậc học:
    • Bậc Trung học phổ thông: Bổ sung tư liệu bài giảng về tác gia Lưu Trọng Lư và phong trào đổi mới văn học đầu thế kỷ XX.
    • Bậc Đại học và Sau đại học: Làm tài liệu tham khảo chuyên ngành cho các môn học Thể loại văn xuôi tự sự, Thi pháp học, Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại và Tự sự học ứng dụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi đề tài, luận án chỉ tập trung khảo sát mảng tác phẩm văn xuôi tự sự sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, chưa mở rộng nghiên cứu đối sánh một cách toàn diện với bộ phận văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư sau năm 1945 (như tiểu thuyết Chiến khu Thừa Thiên và các tập truyện ký kháng chiến). Ngoài ra, do tính chất phân tán của báo chí tiền chiến, việc sưu tầm toàn bộ các bản in báo gốc của một số truyện ngắn còn phụ thuộc vào mức độ tập hợp của bộ sách công bố năm 2011.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát toàn bộ tiến trình văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trong cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945 để nhận diện sự vận động và biến đổi phong cách nghệ thuật của tác giả.
    • Nghiên cứu so sánh loại hình văn xuôi trữ tình - phong tục giữa Lưu Trọng Lư với các tác gia cùng thời ở phạm vi sâu hơn về mặt ngôn ngữ học và địa - văn hóa (không gian văn hóa ba miền: Bắc Bộ, Kinh đô Huế và dải đất miền Trung).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa Thi pháp học, Tự sự học và Loại hình học; là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đề tài nghiên cứu về văn học đô thị 1930 - 1945, văn xuôi lãng mạn và sự tiếp biến văn hóa Đông - Tây.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Tiến trình văn học và Thể loại tự sự.
  • Giáo viên Trung học phổ thông: Bổ sung dẫn liệu phong phú, góc nhìn đa chiều về tác gia Lưu Trọng Lư bên cạnh các bài thơ quen thuộc trong chương trình chính khóa.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, phong tục học: Phần phân tích xu hướng phong tục hóa và dấu ấn không gian ba vùng miền (Quảng Bình, Huế, Hà Nội) là nguồn tư liệu miêu tả sinh động về đời sống xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát khối lượng tác phẩm cụ thể nào của Lưu Trọng Lư?

Luận án khảo sát toàn bộ 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư được sáng tác trước năm 1945, tập hợp trong bộ sách Lưu Trọng Lư, Tác phẩm - truyện ngắn và tiểu thuyết (trọn bộ 2 tập, khoảng 1.145 - 1.500 trang) do Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh sưu tầm, biên soạn, Nhà xuất bản Lao Động và Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây phát hành năm 2011.

2. Hai khuynh hướng thẩm mỹ chính nào hòa trộn trong văn xuôi Lưu Trọng Lư trước 1945?

Đó là khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển (hướng về vẻ đẹp mực thước, trang trọng, hài hòa, đề cao đạo lý và luân lý truyền thống của văn hóa dân tộc kết hợp chuẩn mực cổ điển Pháp) và khuynh hướng thẩm mỹ thị dân (hướng về cái tôi cá nhân, giải phóng cảm xúc, miêu tả đời sống sinh hoạt và các va đập tâm lý trong không gian đô thị hiện đại).

3. Hệ thống hình tượng nhân vật trong văn xuôi Lưu Trọng Lư có những dạng thức nổi bật nào?

Luận án phân tích 3 kiểu hình tượng con người nổi bật:

  • Hình tượng con người mang tâm lý thất bại: Thường bế tắc, lỡ vận, buông xuôi trước định kiến xã hội hoặc rào cản tôn giáo, gia đình.
  • Hình tượng con người chìm đắm trong ái tình: Đặt tình yêu lên trên mọi khuôn mẫu, ranh giới đạo đức phong kiến.
  • Hình tượng con người mộng ảo: Mang hồn cốt lãng mạn, sống nhiều với hoài niệm, ảo mộng và thế giới nội tâm u uất.

4. Nét riêng trong việc xử lý chất liệu hiện thực của văn xuôi Lưu Trọng Lư so với các tác giả cùng thời là gì?

Lưu Trọng Lư không đẩy mạnh xu hướng tiểu thuyết hóa để xây dựng các xung đột giai cấp hay hiện thực xã hội gay gắt như dòng văn học hiện thực phê phán, mà nhào nặn chất liệu hiện thực theo hướng phong tục hóa (miêu tả chân thực tục lệ chăng dây đám cưới, phạt vạ, tập quán dòng họ phụ hệ) kết hợp nhuần nhuyễn với chất thơ trong ngôn từ và cái nhìn lãng mạn.

5. Vì sao trước đây văn xuôi Lưu Trọng Lư ít được đánh giá cao về mặt kết cấu cốt truyện?

Nhiều nhà phê bình đương thời (như Vũ Ngọc Phan) và sau này đánh giá văn xuôi của ông có cốt truyện lỏng lẻo, viết nhanh, ít kịch tính. Luận án chỉ ra rằng đây là đặc trưng của lối viết thiên về dòng cảm xúc, tâm trạng và chất trữ tình (tương tự như Thạch Lam, Thanh Tịnh) hơn là lối dựng truyện tập trung vào biến cố ly kỳ truyền thống.


Kết luận

Luận án Đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư giai đoạn trước 1945 là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về toàn bộ 54 tác phẩm văn xuôi trước Cách mạng của tác giả. Bằng việc vận dụng các phương pháp tiếp cận thi pháp học, loại hình học và tự sự học, tác giả đã làm rõ sự hòa quyện giữa các khuynh hướng thẩm mỹ, hệ thống đề tài, hình tượng con người và các lựa chọn nghệ thuật phong tục hóa kết hợp chất thơ. Công trình đã xác lập một cách công bình, thỏa đáng vị thế của Lưu Trọng Lư như một nghệ sĩ đa năng, đồng thời đóng góp cứ liệu quan trọng vào việc nhận diện diện mạo phong phú của văn xuôi tự sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.