Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945 do sinh viên Cao Thị Tuyết Trinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Mai Thị Liên Giang tại Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Quảng Bình (khóa học 2011 - 2015). Đề tài thuộc chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, đi sâu nghiên cứu thi pháp học và lý luận văn học về mảng sáng tác truyện ngắn thời kỳ tiền cách mạng của nhà văn Tô Hoài.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Tô Hoài là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam với sự nghiệp sáng tác bền bỉ trải dài qua hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tính đến năm 1991, nhà văn Xuân Trường ghi nhận Tô Hoài đã xuất bản khoảng 140 đầu sách; đến thời điểm tác giả khóa luận thực hiện khảo sát, số lượng tác phẩm của ông được thống kê đã lên tới gần 200 đầu sách và được dịch sang hơn 14 ngôn ngữ trên thế giới. Ngay từ những năm 1940, Tô Hoài đã cùng thế hệ với các cây bút hiện thực xuất sắc như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng tạo dựng một phong cách văn xuôi thuần hậu, gần gũi và độc đáo.

Mặc dù truyện ngắn trước năm 1945 là một trong những mảng sáng tác thành công nhất của Tô Hoài, các công trình nghiên cứu trước đó phần lớn tập trung vào mảng sáng tác cho thiếu nhi (Dế Mèn phiêu lưu ký), mảng đề tài miền núi (Vợ chồng A Phủ), đề tài Hà Nội hoặc truyện ngắn giai đoạn sau năm 1945. Cho đến thời điểm tháng 1 năm 2015, chưa có một công trình nghiên cứu nào khảo sát mang tính chuyên sâu, hệ thống và toàn diện về thế giới nghệ thuật trong toàn bộ truyện ngắn của Tô Hoài trước năm 1945. Việc nghiên cứu đề tài này nhằm lấp đầy khoảng trống tư liệu, đem lại cái nhìn trọn vẹn về đóng góp của Tô Hoài đối với tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận xác định mục tiêu làm sáng tỏ các giá trị và đặc trưng thi pháp của truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945, với 2 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát những đặc điểm nổi bật về truyện ngắn của Tô Hoài giai đoạn trước năm 1945 trên các bình diện: nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, tình huống truyện, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
  2. Đánh giá những đóng góp của nhà văn trong sự nghiệp văn chương đối với nền văn học dân tộc, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn giai đoạn tiền Cách mạng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945.
  • Phạm vi tư liệu: Toàn bộ các truyện ngắn sáng tác trước năm 1945 của Tô Hoài được in trong cuốn Tuyển tập Tô Hoài (NXB Văn học, 1987) do GS. Hà Minh Đức sưu tầm và tuyển chọn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Khóa luận vận dụng khung lý thuyết thi pháp học và lý luận văn học hiện đại:

  • Khái niệm Thế giới nghệ thuật: Dựa trên định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học, thế giới nghệ thuật được hiểu là chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật, một mô hình nghệ thuật phản ánh hiện thực được tạo lập theo các nguyên tắc tư tưởng và thẩm mỹ riêng của nhà văn. Chỉnh thể này bao gồm hệ thống nhân vật, kết cấu, tình huống truyện, thế giới ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
  • Quan niệm sáng tác của Tô Hoài: Tác giả sử dụng chính những phát biểu của Tô Hoài trong Sổ tay viết truyện ngắn và Tự truyện để làm cơ sở đối sánh. Tô Hoài quan niệm truyện ngắn là hành động "cưa lấy một khúc đời sống", đòi hỏi phải "rút ngắn, rút ngắn nữa" cho thật chặt chẽ, tinh tế; văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống đời thường, viết về những điều mắt thấy tai nghe quanh làng Nghĩa Đô mà không thi vị hóa hay rập khuôn theo lối mộng tưởng viển vông.

Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khóa luận điểm lại các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến tác gia Tô Hoài:

  • Cuốn Tô Hoài về tác gia và tác phẩm (NXB Giáo dục, 2007) do Phong Lê giới thiệu và Vân Thanh tuyển chọn.
  • Chuyên khảo Phong cách nghệ thuật Tô Hoài và bài viết Đặc điểm thế giới nhân vật Tô Hoài (2006) của Mai Thị Nhung.
  • Luận văn Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 của Hoàng Minh Đức (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn).
  • Luận văn Truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài của Nguyễn Thị Thu Hiền (Đại học Huế).
  • Luận văn Đặc điểm truyện ngắn của các thế hệ nhà văn 198X trong văn học Việt Nam đương đại của Nguyễn Thị Hoài Thu.
  • Công trình Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung (2007) do GS. Phan Cự Đệ chủ biên.
  • Bài viết Tô Hoài - người sinh ra để viết (2014) của Nguyễn Đăng Diệp.
  • Các nhận định lịch sử văn học trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả đã triển khai 4 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

Tên phương pháp Nội dung và phạm vi triển khai trong khóa luận
Phương pháp tổng hợp, thống kê Khảo sát, thống kê các truyện ngắn trước năm 1945 như một chỉnh thể sáng tạo; xác lập mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức nghệ thuật.
Phương pháp phân tích tác phẩm Phân tích chi tiết các truyện ngắn tiêu biểu theo các khía cạnh nội dung, cốt truyện, nhân vật và phương thức tổ chức văn bản nghệ thuật.
Phương pháp so sánh So sánh truyện ngắn Tô Hoài với tác phẩm của các nhà văn cùng thời (Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân, Vũ Trọng Phụng) và đối chiếu giữa các giai đoạn sáng tác của chính tác giả.
Phương pháp nghiên cứu xã hội học Phân tích ảnh hưởng của môi trường sống, nghề nghiệp dệt cửi, không gian làng quê Nghĩa Đô (phủ Hoài Đức) và phong tục tập quán đến thế giới nghệ thuật của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 3 chương nội dung chính:

Chương 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945

Chương 1 là phần trọng tâm chiếm dung lượng lớn nhất, phân tích toàn diện các bình diện tư tưởng và phương thức khắc họa nhân vật:

  • Quan điểm của Tô Hoài về sáng tác và nghệ thuật: Khẳng định nguyên tắc viết về con người thực, cảnh thực quanh mình. Tô Hoài gắn bó máu thịt với quê ngoại làng Nghĩa Đô, từ chối lối viết lãng mạn thoát ly "lá ngọc cành vàng" của Tự lực văn đoàn để trung thành với những gì vụn vặt, nhếch nhác nhưng chân thật của đời sống thường nhật.
  • Khái niệm và phân loại nhân vật: Phân tích bản chất nhân vật văn học theo các góc độ: nội dung tư tưởng (chính diện - phản diện), vai trò vị trí (chính - trung tâm - phụ), thể loại (trữ tình - tự sự - kịch) và chất lượng miêu tả (tính cách - điển hình).
  • Bốn hình tượng nhân vật trung tâm:
    • Hình tượng các loài vật: Xuất hiện trong các tác phẩm như O chuột, Chuột thành phố, Con gà trống ri, Một cuộc bể dâu, Gã chuột bạch. Tô Hoài cá thể hóa từng loài (chuột cống, chuột nhắt, chuột cộc, mèo mướp, gà chọi, gà ri đá, mụ ngan già...), nhân cách hóa các con vật để phản ánh số phận, bi kịch, thói hư tật xấu và khát vọng sống của con người.
    • Hình tượng người nông dân và thợ thủ công: Khắc họa những mảnh đời lam lũ, bế tắc của làng dệt Nghĩa Đô trong cảnh phá sản, nghèo đói qua các tác phẩm Mẹ già (bà lão Vối), Ông cúm bà co (chị Hối), Nhà nghèo (gia đình anh Duyên), Khách nợ (Hương Cay), Buổi chiều ở trong nhà (vợ chồng anh Hối xô xát vì một chai dầu), Chớp bể mưa nguồn (anh Mi và bà Móm).
    • Hình tượng nhân vật trí thức: Khảo sát tâm trạng băn khoăn, giằng xé của những người viết văn nghèo trong Hết một buổi chiều. Nhân vật từ bỏ truyện diễm tình thoát ly mang tên "Ấp hồ" khi nhận ra hiện thực đói rách, khổ cực của xóm thợ xung quanh.
    • Hình tượng nhân vật trẻ em: Trẻ em xuất hiện xuyên suốt như nhân chứng của cuộc sống nghèo khó nhưng giữ trọn nét ngây thơ trong Cỏ dại (cậu bé Tư), Vợ chồng trẻ con (cu Phúc, cái Ngói), Nhà nghèo (bé Gái), Lá thư tình đầu tiên (bé Nghi), Mùa ăn chơi, Vàng phai.
  • Bốn phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    • Khắc họa qua ngoại hình, hành động, lời nói: Miêu tả trang phục pha tạp Tây - Ta - Tàu của anh Tại (Một người đi xa); nét mặt độc đáo của lão Móm khi giỗi cơm, cô Mây e thẹn (Vàng phai), lão lái Khế lên cơn dại, hay thân hình teo tóp, bụng ỏng vì sốt rét của phu đồn điền trong Một đêm gác rừng.
    • Sử dụng hệ thống so sánh tu từ đặc sắc: Đối chiếu nhân vật với các hình ảnh dân dã, cụ thể như "dải khoai", "chiếc que tăm", "cây nứa lép", "quả mít", "mắt vịt", "múi quýt", "trần truồng như viên đá cuội", "ngủ như hai con chó ốm".
    • Đặt nhân vật vào môi trường lao động và sinh hoạt: Thể hiện qua các bữa cơm gia đình (Ông dỗi), cảnh say xỉn cãi vã (Nhà có ma), hoặc tiếng thoi dệt cửi hòa cùng lời hát giao duyên trong đêm (Vàng phai).
    • Khai thác chi tiết phong tục, tập quán: Tái hiện các hủ tục nộp cheo, tảo hôn (Vợ chồng trẻ con), cảnh đòi nợ thuê (Lái Khế), không khí hội võ làng, đấu vật, đánh cờ bỏi (Mùa ăn chơi), và nếp sinh hoạt quán nước đầu làng (Một người đi xa về).

Chương 2: Nghệ thuật xây dựng kết cấu và tình huống truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945

Chương 2 phân tích các quy luật tổ chức tác phẩm và cấu trúc sự kiện nghệ thuật:

  • Khái niệm và chức năng của kết cấu: Khảo sát kết cấu như phương tiện tổ chức liên kết các yếu tố hình thức và nội dung của truyện ngắn.
  • Các kiểu kết cấu tiêu biểu:
    • Kết cấu theo trình tự thời gian tuyến tính: Diễn biến câu chuyện trôi xuôi theo chuỗi sinh hoạt thường nhật.
    • Kết cấu đảo lộn trình tự thời gian của sự kiện: Sử dụng dòng hồi ức, hoài niệm để đan cài quá khứ vào hiện tại.
    • Kết cấu với kết thúc bất ngờ, dang dở: Để ngỏ số phận nhân vật, tạo dư âm ám ảnh cho người đọc.
  • Khái niệm và các kiểu tình huống truyện:
    • Tình huống bỏ làng ra đi: Phản ánh sự tha hương cầu thực của người dân quê trước sức ép bần cùng hóa.
    • Tình huống thường nhật: Khai thác các xung đột vụn vặt trong đời sống sinh hoạt gia đình, xóm giềng.
    • Tình huống chia ly: Thể hiện sự tan vỡ, ly tán của các gia đình nghèo và những mối tình dang dở.

Chương 3: Thế giới ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945

Chương 3 tập trung làm rõ phương diện thi pháp ngôn từ và phong cách trần thuật:

  • Thế giới ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Ngôn ngữ dân dã: Sử dụng lớp từ ngữ khẩu ngữ, tiếng lóng, lời ăn tiếng nói hằng ngày của tầng lớp thợ thủ công và nông dân ngoại thành Hà Nội.
    • Ngôn ngữ giàu tính tạo hình: Miêu tả chi tiết đường nét, màu sắc, hình khối của cử chỉ, đồ vật và phong cảnh.
    • Ngôn ngữ đa thanh: Đan xen lời người kể chuyện với lời độc thoại nội tâm và đối thoại của các nhân vật.
    • Ngôn ngữ ấn tượng: Khả năng chắt lọc những từ ngữ độc đáo, gợi cảm giác mạnh.
  • Hệ thống giọng điệu trần thuật:
    • Giọng điệu khách quan: Trần thuật lạnh lùng, tôn trọng tính chân thực của đời sống thực tế.
    • Giọng điệu hài hước, dí dỏm ("hóm lẹm"): Tiếng cười nhẹ nhàng nhưng sắc sảo, phê phán kín đáo các thói hư tật xấu.
    • Giọng điệu suồng sã, tự nhiên: Tái hiện không khí đối thoại đời thường chân chất.
    • Giọng điệu trữ tình: Bộc lộ sự đồng cảm sâu xa, xót thương đối với những kiếp người cơ cực và vẻ đẹp mộc mạc của quê hương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Hệ thống hóa diện mạo truyện ngắn Tô Hoài trước 1945: Khóa luận đã khảo sát toàn diện các sáng tác trước năm 1945 trong Tuyển tập Tô Hoài (1987), chứng minh rằng truyện ngắn giai đoạn này là một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh chứ không chỉ dừng lại ở các tác phẩm đồng thoại cho thiếu nhi.
  2. Làm sáng tỏ thi pháp nhân vật: Xác lập 4 kiểu hình tượng nhân vật đặc trưng (loài vật, nông dân - thợ thủ công, trí thức tiểu tư sản, trẻ em) và chỉ ra các thủ pháp xây dựng nhân vật độc đáo gắn liền với sinh hoạt phong tục làng nghề dệt Nghĩa Đô.
  3. Xác định các đặc trưng phong cách: Làm rõ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kết cấu đời thường, tình huống sinh hoạt, hệ thống ngôn ngữ dân dã tạo hình và giọng điệu trần thuật "hóm lẹm", trữ tình.

Tổng hợp các đóng góp về mặt thi pháp

Bình diện thi pháp Đặc trưng trong truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945 So sánh với các tác giả cùng thời
Thế giới nhân vật Đa dạng: loài vật, thợ thủ công làng dệt, trẻ em, nông dân nghèo; nhân vật hành động theo tâm lý tự nhiên đời thường. Khác với nhân vật tha hóa, quằn quại bi kịch của Nam Cao hay nhân vật đấu tranh giai cấp quyết liệt của Ngô Tất Tố.
Bút pháp miêu tả Sử dụng hệ thống so sánh dân dã (nứa lép, dải khoai, quả mít, que tăm); đặc tả cử chỉ, nét mặt, phong tục tập quán. Tự nhiên, sinh động, đậm chất phong tục ngoại thành Hà Nội, không dùng từ ngữ ước lệ hoa mỹ.
Kết cấu & Tình huống Kết cấu thời gian linh hoạt, kết thúc dang dở; tình huống đời thường, bỏ làng ra đi, chia ly. Không gò bó vào cốt truyện ly kỳ, trinh thám hay thắt nút - mở nút kịch tính theo lối truyền thống.
Ngôn ngữ & Giọng điệu Ngôn ngữ khẩu ngữ, đa thanh, giàu chất tạo hình; giọng điệu trần thuật khách quan kết hợp hài hước hóm lẹm và trữ tình. Giọng điệu hóm hỉnh, thâm trầm, không gay gắt đả kích như Vũ Trọng Phụng hay bi quan chua chát như Nam Cao.

Đóng góp thực tiễn

  • Đề tài đóng góp một công trình khảo sát có hệ thống, khẳng định vị trí lịch sử văn học của Tô Hoài trong dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác giảng dạy và học tập của giảng viên, sinh viên Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Quảng Bình trong các học phần Văn học Việt Nam và Phương pháp dạy học Tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi nguồn ngữ liệu: Khóa luận chỉ tập trung khảo sát các truyện ngắn được tuyển chọn trong cuốn Tuyển tập Tô Hoài (NXB Văn học, 1987) do GS. Hà Minh Đức sưu tầm. Do đó, một số truyện ngắn hoặc tiểu phẩm ngắn đăng rải rác trên các báo chí thời kỳ tiền khởi nghĩa chưa được thu thập đầy đủ vào phạm vi khảo sát.
  • Tính đối sánh lịch sử: Công trình chủ yếu tập trung phân tích thi pháp giai đoạn trước năm 1945, chưa có điều kiện mở rộng đối sánh sâu rộng với toàn bộ chặng đường sáng tác sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của tác giả.

Hướng phát triển tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi sưu tầm các tác phẩm truyện ngắn đăng báo trước năm 1945 chưa được in lại trong các tuyển tập chính thức để hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về di sản văn học tiền chiến của Tô Hoài.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tính tiếp biến của thế giới nghệ thuật Tô Hoài qua hai thời kỳ trước và sau năm 1945.
  • Ứng dụng kết quả nghiên cứu thi pháp truyện viết về loài vật và trẻ em của Tô Hoài vào việc thiết kế bài dạy đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh cấp Tiểu học.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho các đối tượng và mục đích học thuật sau:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Ngữ văn: Cung cấp tri thức chuyên sâu về tác gia Tô Hoài, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả thế giới loài vật và tâm lý trẻ em – mảng kiến thức trực tiếp phục vụ chương trình phân tích tác phẩm và giảng dạy văn học ở trường tiểu học.
  • Học viên, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại: Cung cấp hệ thống luận điểm, dẫn chứng văn bản và các phân tích thi pháp phục vụ việc nghiên cứu về văn học hiện thực 1930 - 1945, thể loại truyện ngắn và phong cách nghệ thuật Tô Hoài.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 1 với hệ thống dẫn chứng phong phú về 4 hình tượng nhân vật (loài vật, nông dân làng nghề, trí thức, trẻ em) và phân tích các biện pháp tu từ so sánh độc đáo của Tô Hoài.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn ngữ liệu chính được sử dụng để khảo sát trong khóa luận là gì?

Toàn bộ các tác phẩm truyện ngắn của Tô Hoài trước năm 1945 được khảo sát trong khóa luận được trích xuất từ cuốn sách Tuyển tập Tô Hoài do GS. Hà Minh Đức sưu tầm và tuyển chọn, được Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1987.

2. Khóa luận phân chia thế giới nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài trước 1945 thành những hình tượng nào?

Khóa luận chia thành 4 hình tượng nhân vật chính:

  1. Hình tượng các loài vật (chuột, gà, vịt, ngan, mèo...).
  2. Hình tượng người nông dân và người thợ thủ công nghèo làng Nghĩa Đô.
  3. Hình tượng người trí thức tiểu tư sản nghèo trăn trở với nghề viết.
  4. Hình tượng nhân vật trẻ em lam lũ nhưng hồn nhiên.

3. Tác giả khóa luận giải thích thuật ngữ giọng điệu "hóm lẹm" của Tô Hoài như thế nào?

Theo phân tích trong khóa luận, "hóm lẹm" là sự kết hợp giữa tính từ "hóm" (khiếu hài hước, dí dỏm) và "lẹm" (sự sắc bén, ngọt sắc như dao, kéo). Giọng điệu "hóm lẹm" của Tô Hoài thể hiện một ngòi bút vừa hài hước, ý nhị, vừa sắc sảo, sâu cay nhưng vẫn giữ được sự ấm áp, thân thương và gần gũi với đời thực.

4. Chi tiết phong tục tập quán làng quê được Tô Hoài khai thác qua những khía cạnh nào?

Tô Hoài đưa vào truyện ngắn các phong tục độc đáo của vùng quê ven đô Hà Nội: tục nộp cheo làng, hủ tục tảo hôn (Vợ chồng trẻ con), cảnh đòi nợ thuê (Lái Khế), các sinh hoạt hội làng đầu xuân như thi đấu võ, chọi gà, đánh cờ bỏi, hát chèo (Mùa ăn chơi), và không gian sinh hoạt cộng đồng tại quán nước cây đa đầu làng (Một người đi xa về).

5. Hệ thống so sánh tu từ của Tô Hoài có đặc điểm gì nổi bật so với các nhà văn cùng thời?

Hệ thống so sánh của Tô Hoài không dùng hình ảnh mỹ lệ, ước lệ mà sử dụng những hình ảnh đời thường, mộc mạc, thô ráp (dải khoai, que tăm, nứa lép, quả mít, múi quýt). Hệ thống này gồm 3 dạng: so sánh người với đồ vật/loài vật thô ráp để nhấn mạnh cảnh bần cùng; gán đặc tính người cho loài vật; và so sánh hành động của trẻ thơ với hình ảnh ngộ nghĩnh, tự nhiên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cao Thị Tuyết Trinh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945. Bằng việc vận dụng lý luận thi pháp học và 4 phương pháp nghiên cứu văn học, công trình đã làm sáng tỏ nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, tình huống cũng như thế giới ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật mang đậm phong vị làng quê Nghĩa Đô. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị thế độc đáo của Tô Hoài trong trào lưu văn học hiện thực Việt Nam tiền Cách mạng và cung cấp nguồn tư liệu học thuật có giá trị thiết thực cho ngành Giáo dục Tiểu học.